Võ Đạo / Câu Hỏi Khảo Hạch Thi Lên Đai

 

Câu Hỏi Khảo Hạch Thi Lên Đai Xanh Đậm

 

10 Điều Tâm Niệm Của Việt Võ Đạo Sinh
  1. VVĐS (Việt Võ Đạo Sinh) nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại.
  2. VVĐS nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo.
  3. VVĐS đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.
  4. VVĐS tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ.
  5. VVĐS tôn trọng các phái võ khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.
  6. VVĐS chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau giồi đạo hạnh.
  7. VVĐS sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.
  8. VVĐS kiện toàn một ý chí đanh thép, thắng phục cường quyền bạo lực.
  9. VVĐS sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.
  10. VVĐS tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn luôn kiểm điểm để tiến bộ.

 


 

Câu Hỏi Khảo Hạch Thi Lên Lam Đai I Cấp

 

 

Câu Hỏi 1VOVINAM là gì? Tại sao gọi là VOVINAM?
Đáp:VOVINAM được viết tắt với 3 tiếng “Võ Việt Nam” với mục đích:
  • Để phân biệt với các môn võ đã có ở trong nước, đều được gọi chung là Võ Việt Nam
  • Để người ngoại quốc dễ đọc, dễ nhớ như người Việt Nam.
Câu Hỏi 2Khi nghiêm lễ, Việt Võ Đạo Sinh đặt bàn tay lên tim có ý nghĩa gì?
Đáp:Khi nghiêm lễ, VVĐS đặt bàn tay lên tim có nghĩa là bàn tay thép đặt trên trái tim từ ái, đức dũng phải đi đôi với lòng nhân, võ thuật phải đi đôi với võ đạo. Người môn sinh VVĐ chỉ được dụng võ khi đặt vào đó một tình thương.
Câu Hỏi 3Việt Võ Đạo Sinh phải ghi nhớ mấy điểm sơ khởi về kỷ luật võ đường? Hãy kể ra.
Đáp:Việt Võ Đạo Sinh phải ghi nhớ 4 điểm kỷ luật võ đường:
  • Đi tập đều đặn, đúng giờ.
  • Khi nghỉ phải làm đơn xin phép hoặc thông báo HLV phụ trách biết.
  • Ra, vô phòng tập chào chân dung Sáng-Tổ như nghiêm lễ đối với người trên cấp mình.
  • Tôn trọng các võ phái khác.
Câu Hỏi 4Quan niệm thông thường của mọi người học võ ra sao? Việt Võ Đạo Sinh học võ để làm gì?
Đáp:Quan niệm thông thường của mọi người là học võ để tự vệ hoặc giỏi võ, còn VVĐS học võ để thân thể khỏe mạnh, trí tuệ minh mẫn, tâm hồn cao thượng.
Câu Hỏi 5Quan niệm dụng võ của VOVINAM gồm mấy điểm? Hãy kể ra.
Đáp:Quan niệm dụng võ của VOVINAM gồm 4 điểm:
  • Không thượng đài.
  • Không gây lộn, không thử võ với người.
  • Chỉ tự vệ.
  • Chuộng lẽ phải.
Câu Hỏi 6Việt Võ Đạo Sinh có được phép thượng đài không? Tại sao?
Đáp:VVĐS không được phép thượng đài, vì Môn Phái VOVINAM là một môn phái Võ-Đạo có đường lối, chủ trương rỏ rệt, nên muốn góp phần vào việc cải tạo xã hội, xây dựng con người toàn diện hơn là việc thượng đài chỉ có tính cách thể thao.
Câu Hỏi 7Trong trường hợp nào Việt Võ Đạo Sinh được phép dụng võ?
Đáp:VVĐS được phép dụng võ trong những trường hợp dưới đây:
  • Khi danh dự bị xúc phạm, quyền sống bị đe dọa.
  • Trọng công bằng chính trực, chống bất công để bênh vực kẻ yếu.
Câu Hỏi 8Tinh thần võ đạo mà môn phái VOVINAM chủ trương có mấy phần vụ? Hãy giải thích tổng quát.
Đáp:Tinh thần võ đạo mà môn phái VOVINAM chủ trương gồm 3 phần vụ:
  • Sống cho mình.
  • Để người khác sống.
  • Phải sống cho người.
Câu Hỏi 9VOVINAM có mấy màu đai? Ý nghĩa ra sao?
Đáp:Môn phái VOVINAM có 4 màu đai căn bản và ý nghĩa như:
  • Xanh : biểu thị cho màu hy vọng, với ý nghĩa võ sinh đang nuôi một hy vọng tiến sâu vào nghành võ thuật và tu dưỡng tinh thần võ đạo.
  • Vàng : biểu thị cho màu da, với ý nghĩa võ thuật và võ đạo bắt đầu ngấm vào thân thể.
  • Đỏ : biểu thị cho màu máu, với ý nghĩa võ thuật và võ đạo ngấm sâu vào máu huyết, lưu thông trong thân thể.
  • Trắng : biểu thị cho màu xương, với ý nghĩa võ thuật và võ đạo đã ngấm sâu vào xương tủy, biến thành thân thái con người, tượng trưng tinh hoa môn phái.
Câu Hỏi 10VOVINAM có mấy đẳng cấp? Thời gian tập, mỗi cấp bao lâu?
Về đẳng: VOVINAM Việt Võ Đạo có:
Sơ Đẳng: (đai lưng màu xanh dương)
Trung Đẳng: (đai lưng màu vàng)
Cao Đẳng: (đai lưng màu đỏ)
Thượng Đẳng: (đai lưng màu trắng)Về cấp:
Sơ Đẳng có 3 cấp (đai xanh thêm 1, 2, 3 vạch vàng)
Trung Đẳng có 3 cấp (đai vàng thêm 1, 2, 3 vạch đỏ)
Cao Đẳng có 7 cấp (đai đỏ thêm từ 1 đến 7 vạch trắng)
Thượng Đẳng độc nhất, dành riêng cho vị Chưởng-Môn, lãnh đạoMôn-PháiNgoài ra, khi bắt đầu học võ phải qua lớp “tự vệ nhập môn” đai xanh như màu áo, mới lên bậc sơ đẳng. Và khi hết bậc trung đẳng “nếu trúng tuyển” môn sinh sẽ trở thành võ-sư trợ huấn (đai đỏ có 2 viền vàng) và chuyển lên học lớp dự bị cao đẳng. Từ lớp Tự Vệ Nhập Môn lên đến hết bậc Sơ Đẳng, thời gian từ 6 tháng đến một năm. Phần Trung Đẳng mỗi cấp từ 2 đến 3 năm (Chuẩn Hoàng Đai tương đương với Huyền Đai). Riêng cao đẳng 4 năm mới lên một cấp. Thượng đẳng vô địch vì chỉ vị Chưởng-Môn có nhiệm vụ lãnh đạo môn phái mới ở trình độ đó.
Câu Hỏi 11Hiện nay ai là võ sư Chưởng Môn? Võ sư Chưởng Môn mang đai màu gì?
Đáp:Hiện nay vị Chưởng Môn là Võ sư LÊ SÁNG. Võ sư Chưởng Môn mang đai màu trắng (có viền 3 vạch xanh, vàng, đỏ).
Câu Hỏi 12Hiện thời trong môn phái có mấy võ sư mang bạch đai thượng đẳng? Trong tương lai có thể có hai hoặc ba thượng đẳng không?
Đáp:Hiện thời trong môn phái chỉ có một võ sư mang bạch đai thượng đẳng là võ-sư Chưởng-Môn. Trong tương lai nếu có thì cũng chỉ có một mà thôi, vĩ vị Võ sư đó kế nhiệm Chưởng Môn.
Câu Hỏi 13Căn cứ trên mấy điểm, môn phái VOVINAM đưa ra nhận định tổng quát về đức hạnh của người môn sinh? Hãy kể ra.
Đáp:Đức hạnh của người môn sinh căn cứ trên 4 điểm:
  1. Tính nết, tốt hay xấu, dễ bảo hay ngổ nghịch.
  2. Cách đối xử, trong gia đình và ngoài xã hội.
  3. Tinh thần học tập và kỷ luật, với học đường và võ đường.
  4. Tinh thần trách nhiệm, khi được giao phó cho một công tác nào đó.
Câu Hỏi 14Trong đại gia đình VOVINAM, các môn đồ đối xử với nhau ra sao?
Đáp:Trong đại gia đình VOVINAM, các môn đồ thương yêu, kính trọng lẫn nhau. Sự kính trọng và lòng thương yêu ấy đan kết thành kỷ luật môn phái, một giềng mối vững chắc giúp các môn đồ đoàn kết chặt chẽ để nêu cao danh dự môn-phái và trở thành những con người toàn diện.
Câu Hỏi 15Võ sinh và môn sinh khác nhau thế nào?
Đáp:Võ sinh : người mới tập võ, chưa làm Lễ Tuyên Thệ Nhập Môn.
Môn sinh: người đã qua một trình độ rèn luyện võ thuật, thấm nhuần tinh thần võ đạo và đã làm Lễ Tuyên Thệ Nhập Môn.

 


 

Câu Hỏi Khảo Hạch Thi Lên Lam Đai II Cấp

 

Câu Hỏi 1Tại sao môn phái VOVINAM quan niệm tài và đức phải đi đôi với nhau?
Đáp:Bởi vì người có tài mà thiếu đức (cũng như người võ biền) sẽ trở thành tàn bạo, độc ác. Nếu chỉ có đức mà thiếu tài sẽ trở thành yếu hèn, nhu nhược.
Câu Hỏi 2Nếu chỉ có tài mà thiếu đức thì kết quả ra sao? Ngược lại chỉ có đức mà thiếu tài sẽ thế nào?
Đáp:Nếu chỉ có tài mà thiếu đức, tài ấy chỉ làm hại cho xã hội, không hữu ích cho chính bản thân, gia đình, quốc gia, xã hội. Nếu chỉ có đức mà thiếu tài tuy sẽ thành người tốt nhưng không đủ bản lãnh giữ được mãi chớ chưa nói tới sự phát huy và phổ cập những tính tốt đó cho mọi người.
Câu Hỏi 3Mục đích của môn phái VOVINAM có mấy điều? Hãy kể điều thứ 1 (hoặc thứ 2 hoặc thứ 3).
Đáp:Mục đích của môn phái VOVINAM gồm có 3 điều. Điều thứ 1 là: Bảo tồn, phát triển và quảng bá võ học Việt Nam, cùng khai thác trọn vẹn cả hai phần Cương và Nhu của con người để xiển dương môn phái VOVINAM, bằng cách lấy những môn võ và vật cổ truyền Việt Nam làm căn bản, và phối hợp, thái dụng mọi tinh hoa võ thuật đã và hiện có trên thế giới.
Câu Hỏi 4Về võ lực, môn phái VOVINAM luyện tập cho môn sinh ra sao?
Đáp:Về võ lực, môn phái VOVINAM luyện tập cho môn sinh một thân hình dắn dỏi, vững vàng, một sức mạnh dẻo dai, để có thể chịu đựng mọi khó khăn cực nhọc, đẩy lui các bệnh hoạn, giữ cho thân thể luôn luôn tráng kiện và lành mạnh.
Câu Hỏi 5Về võ thuật, môn phái VOVINAM huấn luyện cho môn sinh ra sao?
Đáp:Về võ thuật, môn phái VOVINAM huấn luyện cho môn sinh một kỷ thuật tinh vi để tự vệ hữu hiệu hầu đạt tới mức độ một nghệ thuật cao quý để phục vụ con người và sẵn sàng bênh vực lẽ phải.
Câu Hỏi 6Về võ đạo, môn phái VOVINAM rèn luyện cho môn sinh những gì?
Đáp:Về võ đạo, môn phái VOVINAM rèn luyện cho môn sinh một tâm hồn cao thượng, một ý chí quật cường, một phong thái hào hiệp, một tinh thần kỷ luật tự giác vững chắc, một nếp sống hợp quần trong đồng đạo, một truyền thống hy sinh cao cả, một đức độ khoan dung từ ái, để phục vụ hữu hiệu cho bản thân, gia đình, dân tộc và nhân loại.
Câu Hỏi 7Tôn chỉ của môn phái VOVINAM có mấy điểm?
Đáp:Tôn chỉ của môn phái VOVINAM gồm có 5 điểm.
Câu Hỏi 8Mọi hoạt động của môn phái VOVINAM đều xây dựng trên nền tảng nào?
Đáp:Mọi hoạt động của môn phái VOVINAM đều xây dựng trên nền tảng: Lấy con người làm cứu cánh, lấy đạo hạnh làm phương châm, lấy kỷ thuật và ý chí quật cường làm phương tiện.
Câu Hỏi 9Lịch sử môn phái VOVINAM chia ra làm mấy giai đoạn?
Đáp:Lịch sử môn phái VOVINAM có thể chia ra làm 5 giai đoạn:
  1. Giai đoạn phôi thai.
  2. Giai đoạn thành lập và phát.
  3. Giai đoạn trưởng.
  4. Giai đoạn phân hóa.
  5. Giai đoạn phục hưng.
Câu Hỏi 10Danh tính của Cố Võ sư Sáng Tổ là gì? Người sinh ngày nào? Tại đâu?
Đáp:Cố Võ sư Sáng Tổ tên Nguyễn Lộc, sinh ngày 8 tháng 4 năm Nhâm Tý (1912) tại làng Hữu Bằng, Huyện Thạch Thất, Tỉnh Sơn Tây (BV).
Câu Hỏi 11Cố Võ sư Sáng Tổ hoàn thành việc nghiên cứu VOVINAM từ năm nào?
Đáp:Có thể nói, suốt đời vị Võ sư Sáng Tổ VOVINAM, ông Nguyễn Lộc đã tận tụy hy sinh làm việc để phục vụ cho việc hoàn thành môn phái VOVINAM.
Câu Hỏi 12Cuộc biểu diễn VOVINAM lần đầu tiên được tổ chức tại đâu? Vào năm nào?
Đáp:Cuộc biểu diễn VOVINAM lần đầu tiên được tổ chức tại nhà hát lớn, thành phố Hà Nội, vào mùa thu năm 1938.
Câu Hỏi 13Lớp VOVINAM công khai đầu tiên được mở tại đâu? Vào năm nào?
Đáp:Cuộc biểu diễn VOVINAM lần đầu tiên được tổ chức tại nhà hát lớn, thành phố Hà Nội, vào mùa thu năm 1938.
Câu Hỏi 14Cố Võ sư Sáng Tổ mất năm nào? An táng tại đâu?
Đáp:Cố Võ sư Sáng Tổ mất ngày 4 tháng 4 năm Canh Tý (1960) di thể an táng tại nghĩa địa Đô Thành, đường Mạc Đỉnh Chi, Sài Gòn.
Câu HỏiHiện thời môn phái VOVINAM phát triển mạnh trong giới nào?
Đáp:Có thể nói, VOVINAM Việt Võ Đạo là môn võ đang được sinh viên và học sinh Việt Nam yêu chuộng và theo tập nhiều nhất hiện nay.

 


 

Câu Hỏi Khảo Hạch Thi Lên Lam Đai III Cấp

 

Ý nghĩa về phù hiệu và kỳ hiệu của môn phái Vovinam Việt Võ Đạo
Câu Hỏi 1Ý nghĩa phù hiệu và kỳ hiệu của VOVINAM Việt Võ Đạo ra sao?
Đáp:Về màu sắc: Phù hiệu và kỳ hiệu đều dùng 4 màu đai làm căn bản là:
Xanh        (tượng trưng cho biển cả và hy vọng).
Vàng        (tượng trưng cho vương đạo Á Đông, màu của vinh quang hiển hách).
Đỏ         (tượng trưng cho lửa sống và tranh đấu hào hùng kiên quyết).
Trắng        (tượng trưng cho sự thanh thiết, thanh tịnh cao cả, thâm viễn tuyệt vời, không hình không sắc).
B. Về hình nét: Phù hiệu gồm 2 hình vuông ở trên và tròn ở dưới, ghép lại tượng trưng cho sự phối hợp giữa cương và nhu, biểu thị cổ truyền toàn chân toàn thiện.Cả phù hiệu và kỳ hiệu: Vòng tròn nhỏ (xanh, đỏ) biểu tượng cho âm và dương bản đồ màu vàng ở giữa bao hàm ý nghĩa tương thôi tương giao, tương binh và tương dịch, là hình thể một việt tích oai hùng, tự chủ, bất khuất, độc lập và thống nhất. Vòng tròn lớn màu trắng bao quanh vòng tròn (xanh, đỏ), biểu tượng cho thể huyền nhiệm không sắc không màu với sự phụ phối hợp khắc chế điều hòa bao dung.

 

Lược sử môn phái Vovinam Việt Võ Đạo

 

Câu Hỏi 2Lược sử Môn Phái Vovinam chia ra làm mấy giai đoạn? Hãy kể những sự chính trong từng giai đoạn.
Đáp:Lược sử Môn Phái Vovinam Việt Võ Đạo chia ra làm 5 giai đoạn, đó là những giai đoạn:

A. Những việc chính trong giai đoạn phôi thai (từ năm 1938)
Trước hai khuynh hướng: Cách mạng sắc máu của nhà chí sĩ cách mạng đương thời, và cách mạng ru ngủ quần chúng bằng cái vỏ tự do phóng khoán của bọn thực dân thống trị, từ thiếu thời Ông Nguyễn Lộc đã ấp ủ hoài bảo đứng ra đảm nhận trách nhiệm của người thanh niên trong lúc đất nước lâm nguy, do đó Ông cố gắng trau giồi học vấn, đạo đức, và võ thuật đồng thời Ông đưa ra một quan niệm mới hướng dẫn các thanh niên đương thời vào tâm thân cách mạng.
B. Trong giai đoạn thành lập (1939-1945)
Cuộc biểu diễn đầu tiên tại nhà Hát Lớn Hà Nội vào mùa thu năm 1939.
( Lớp Vovinam công khai mở cho thanh niên Hà Nội tại Trường Sư Phạm vào đầu xuân năm 1940. Và cuộc biểu diễn tại đây đã biểu lộ tinh thần “uy vũ bất năng khuất” của võ sư Nguyễn Lộc.
( Phát động phong trào công khai chống Pháp bằng những cuộc đụng độ giữa các sinh viên, viên chức học Vovinam với các sinh viên và viên chức Pháp tại trường Đại học và Sở Canh Nông Hà Nội.
C. Trong giai đoạn trưởng thành (1945-1946) môn phái VOVINAM đã:
( Hợp tác với chính phủ Trần Trọng Kim và tham gia các tổ chức ái-quốc.
( Giữ an ninh cho đồng bào nội thành và ngoại ô thành phố Hà Nội. Tuy tham gia và hoạt động tích cực các công tác ích quốc lợi dân như vậy, Ông vẫn không có tham vọng làm chính trị, mà chỉ đem sở trường đào luyện lớp thanh niên ưu tú làm thành trì cho cách mạng, nên Ông mở rất nhiều lớp ở các nơi như: Trường Bưởi, trường Thăng Long, trường Hổ Vũ và Việt Nam học xá, bãi Nhà đèn, bãi Septo.v.v..
D. Giai doạn phân hóa (1946-1948)
( Ngày 19-12-1948, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Cũng như đa số các đoàn thể khác thời ấy, hàng ngũ Vovinam cũng bị phân hóa, do tình thế chiến tranh tạo nên. Lòng dân đang sôi động vì cuộc chiến tranh chống Pháp. Nhân, tài và vật lực của quốc gia giốc cả vào chiến tranh, nên khá đông môn đồ Vovinam đã tham gia cuộc chiến với tất cả lòng hăng say của người thanh niên yêu nước, muốn non sông gấm vóc khỏi rơi vào tay thực dân Pháp một lần nữa, chớ ít quan tâm tới khuynh hướng chính trị.
( Trải qua bao đợt phân hóa, Ông đưa vài môn đệ tâm huyết còn lại xuôi Phát Diệm, và tại đây Ông đã mở lớp, cử Môn đệ huấn luyện cho bộ đội Nhà Chung và những lớp cho thanh niên Phát Diệm.
E. Giai đoạn phục hưng (từ 1948-1975)
( Sau ngày Cách Mạng 1-11-1963, Vovinam được phép công khai mở lại Trung Tâm Huấn Luyện Trung Ương tại đường Vĩnh Viễn Chợ lớn. Sau đó, môn phái Vovinam Việt Võ Đạo còn mở thêm những chi nhánh mới khắp nơi trong Đô Thành SAIGON, tổng số môn sinh càng ngày càng gia tăng nhất là sau ngày Việt Võ Đạo đi vào học đường của Bộ Văn Hóa Giáo Dục, và ngành CSQG rồi các đơn vị Quân Đội, Cán bộ PTNT v.v… Cuối năm 1967, để có thể hoạt động hữu hiệu và rộng rãi hơn, môn phái đã thiết lập 3 cơ cấu tổ chức:
– Tổng Hội VOVINAM Việt Võ Đạo.
– Tổng Cục Huấn Luyện.
– Tổng Đoàn thanh niên Việt Võ Đạo.

Với những cố gắng không ngừng, tổng cục huấn luyện đã thiết lập được bốn cục huấn luyện tại bốn vùng chiến thuật.

Câu Hỏi 3Cố Võ Sư Sáng Tổ có chủ trương cách mạng sắc máu không? Người muốn hướng dẫn thanh niên Việt Nam theo con đường nào?
Đáp:Không, vì nhận thấy các cuộc cách mạng sắc máu không thể thành công và nếu gặp thời thuận lợi có thành công cũng không bảo vệ nổi vì thiếu các lớp người có đầy đủ bản lãnh điều hành guồng máy, cai trị và kiến thiết đất nước, do đó Người hướng dẫn thanh niên theo con đường “cách mạng tâm thân” để tạo cái gốc vững chắc cho mọi cách mạng khác (không phủ nhận nguyên lý cách mạng, song ông quan niệm rằng: Muốn đưa cuộc cách mạng dân tộc đến chổ thành tựu, cần phải gây cho thanh niên một ý thức cách mạng, một tinh thần quật cường, một nghị lực quả cảm song song với một thân thể vững chắc đanh thép, mạnh mẽ, dẻo dai có đầy đủ khả năng để tự vệ, làm cách mạng thành công quả là một điều rất khó song bảo vệ được thành quả cách mạng để bước sang giai đoạn kiến thiết lại là một điều khó hơn).
Câu Hỏi 4Hành động nào đã biểu lộ tinh thần “uy vũ bất năng khuất” của võ sư Sáng Tổ?
Đáp:Trong buổi biểu diễn võ thuật tại trường Sư Phạm vào mùa thu năm 1940, tinh thần uy vủ bất năng khuất của cố võ sư Sáng Tổ được biểu lộ qua hành động:

A. Không cho môn đệ nghiêm lễ ở ngoài sân như thường lệ vì có viên chức Pháp ngồi trên khán đài, mà dẫn các môn đệ vào hậu trường nghiêng mình làm lễ trước bàn thờ Tổ Quốc đã được thiết lập sẵn.
B. Dám công khai chống đối các hư danh trao tặng huy chương của bọn thực dân thống trị, bằng cách gở bỏ tấm huy chương do Ducoroy gắn tặng vào trong túi trước mặt dân chúng và các đại diện của nền hành chánh bảo hộ.

Câu Hỏi 5Môn Phái Vovinam có làm chính trị không? Vậy môn phái Vovinam có quan điểm như thế nào?
Đáp:Môn Phái Vovinam không làm chính trị, quan điểm của môn phái Vovinam rất rõ rệt bao gồm trong hai điểm:

A. Môn phái Vovinam không phải là một đảng phái chính trị nên không hoạt động chính trị, nhưng không ngăn cấm môn sinh làm chính trị với tư cách công dân của mình.
B. Mặc dù mục đích của Môn Phái Vovinam chỉ nhắm vào việc xây dựng con người toàn diện trên căn bản võ thuật và tinh thần võ đạo. Nhưng khi thời buổi nước nhà đòi hỏi, môn phái Vovinam sẵn sàng tiếp tay với chính quyền hoặc các đoàn thể khác để thực hiện công cuộc cứu nước và cứu tế xã hội với tinh thần vị tha vô điều kiện. Tuy nhiên sự tiếp tay nầy nếu có, chỉ có nghĩa là môn phái Vovinam đã tích cực và trực tiếp phục vụ công ích cho dân tộc chứ không vì một cá nhân, một đoàn thể nào cả. Và các hoạt động đó chỉ có tính cách nhất thời.

Câu Hỏi 6Lập trường siêu đảng phái của Cố võ sư Sáng Tổ ra sao?
Đáp:Lập trường siêu đảng phái của Cố võ sư Sáng Tổ là: Vượt ra khỏi các khuynh hướng của các đảng phái, đặt quyền lợi của Tổ Quốc lên trên hết, chỉ giúp ích cho dân tộc, đồng bào. Không đòi hỏi quyền lợi riêng tư cho cá nhân hay đoàn thể. Nói cách khác là môn phái Vovinam có thể hợp tác với các đảng phái chính trị ái quốc thực hiện những công cuộc ích quốc lợi dân. Nhưng không bao giờ dành ghế hoặc củng cố chính quyền cho họ.
Câu Hỏi 7Môn đồ Vovinam tham gia cuộc kháng chiến toàn quốc năm 1946 có phải vì tham vọng chính trị không? Vì sao?
Đáp:Năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Môn đồ Vovinam than gia cuộc kháng chiến toàn quốc, không phải vì tham vọng chính trị mà là vì lòng yêu nước nhiệt thành của người thanh niên không muốn đất nước một lần nữa rơi vào tay thực dân thống trị.
Câu Hỏi 8Tiêu chuẩn nào được nêu lên làm kim chỉ nam trong việc phục hưng Môn Phái?
Đáp:Trong các cuộc thăng trầm vì thời cuộc, ý thức được hoàn cảnh cũng như ước vọng của vị Sáng Tổ nêu lên tiêu chuẩn làm kim chỉ nam trong việc phục hưng Môn Phái là Vovinam không hoạt động sôi nổi mãnh liệt như thời toàn dân thức tĩnh vùng lên chống Pháp mà phải hoạt động theo từng nhịp bước vững chắc với sự chịu đựng bền bỉ để tiến tới việc xây dựng nền móng Việt Võ Đạo theo ước muốn của Cố Võ Sư Sáng Tổ.

 

Tác phong của Việt Võ Đạo Sinh
Câu Hỏi 9Tại sao VVĐS phải giữ gìn tác phong ở mọi nơi, trong mọi trường hợp?
Đáp:Việt Võ Đạo Sinh phải gìn giữ tác phong ở mọi nơi, trong mọi trượng hợp là vì mọi người thường nhìn vào tác phong của VVĐS để phán đoán và đánh giá phẩm cách của họ cùng danh dự môn phái.
Câu Hỏi 10Có mấy điều xấu cần tránh? Có mấy điều tốt nên làm? Hãy kể ra.
Đáp:Có 5 điều xấu cần tránh là:
A. Tránh huênh hoang, tự đắc rằng mình là người “có võ” ở giữa đám đông người.
B. Tránh dèm pha thanh danh các võ phái khác.
C. Tránh mọi hành động khiêu khích, để người ngoài có thể hiểu lầm rằng môn phái ta chỉ cốt huấn luyện võ sinh đi gây chuyện với thiên hạ.
D. Tránh mọi đụng độ vô lý, chỉ cốt “lấy le” với thiên hạ trong một lúc.
E. Tránh tinh thần quốc gia quá khích, bài xích các môn võ nước ngoài du nhập, dù người đối thoại là bạn thân hay người nhà.Có 5 điều tốt nên làm là:
A. Thực tập tinh thần Việt Võ Đạo trong đời sống, để được mọi người mến phục.
B. Gây tình cảm thân hậu với các môn phái khác, để họ hiểu ta, quý mến ta, sẵn sàng hợp tác với môn phái ta, trong việc phát triển võ đạo và võ thuật.
C. Thấy việc phải làm ngay, không chờ người nhắc nhở.
D. Dám lãnh trách nhiệm, tận tâm giúp để người, không so bì hơn thiệt.
E. Ôn luyện, học hỏi không ngưng để tiến bộ.
Câu Hỏi 11Hãy kể những đồng điểm và dị điểm giữa tác phong VVĐS và tác phong của người công nhân?
Đáp:Đồng điểm – Cùng chung mục đích phục vụ dân tộc và đồng bào. Dị điểm – người công nhân có thể chỉ biết tới dân tộc và đồng bào họ, nhưng Việt Võ Đạo Sinh, ngoài nghĩa vụ đối với dân tộc và đồng bào, còn có nghĩa vụ đối với môn phái và nhân loại.
Câu Hỏi 12Khi học tập, Việt Võ Đạo Sinh phải có tác phong nào?
Đáp:Có 3 phương châm cần phải ghi nhớ khi học tập, là: Kỷ luật, kính thầy, yêu bạn.
A. Kỷ luật: Trọng kỷ luật võ đường; tại võ đường, từ lúc đến phòng tập, thay võ phục, học võ và thụ huấn tinh thần võ đạo, phải tự chứng tỏ là lúc nào cũng tôn trọng kỷ luật chung.
B. Kính thầy: Lúc tới và sau buổi học võ phải chào võ sư và huấn luyện viên theo nghi thức Việt Võ Đạo. Trong buổi học, châm chú theo dõi, không làm ồn để tâm trí tản mát. Tuyệt đối tuân theo lệch của võ sư và huấn luyện viên.
C. Yêu bạn: Luôn luôn vui vẽ, hòa nhả với các bạn đồng lớp. Nếu bạn yếu kém, phải nương tay, chỉ dẫn, khuyến khích bạn. Khi bạn bị té đau, phải đỡ dậy săn sóc. Gặp trường hợp bị bạn lỡ tay đánh quá mạnh, cũng không giận dữ, cáu kỉnh. Tuyệt đối tránh những ý nghĩ thù hận, đố kỵ. Khi thụ huấn về tinh thần võ đạo, luôn luôn giúp đỡ bạn và học hỏi ở bạn. Tránh tranh luận ồn ào, cướp lời bạn một cách lổ mảng.
Câu Hỏi 13Trong gia đình, Việt Võ Đạo Sinh phải cư xử thế nào?
Đáp:Trong gia đình Việt Võ Đạo Sinh phải kính mến người trên, yêu mến người ngang hàng, thương mến người dưới.
A. Đối với người trên là: Ông bà, cha mẹ, chú, bác, cô, dì, cậu mợ, ta phải lễ độ và dâng theo lời dạy bảo.
B. Đối với người ngang hàng là: Anh chị em trong nhà, ta phải chí tình, luôn luôn vui vẽ, hòa thuận.
C. Đối với người dưới là: Con cháu, người làm phải rộng lượng, tận tâm chỉ bảo với thái độ ôn tồn, hòa nhả.Tuyệt đối tránh sự dùng võ khi trong gia đình không may có chuyện bất hòa, vì đó chẳng những là một thái độ vô ý thức mà còn gây sự hiểu lầm về việc giáo dục tinh thần của môn phái ta.
Câu Hỏi 14Tác phong của Việt Võ Đạo Sinh khi làm việc ra sao?
Đáp:Khi làm việc, VVĐS phải ghi nhớ tác phong “con nhà võ” với tinh thần Việt Võ Đạo: Thận trọng nhưng mau lẹ. Muốn thế, phải tập phân biệt các giai đoạn của sự việc. Lúc tính việc, lúc vào việc, lúc xong việc.
1. Lúc tính việc phải có tinh thần thực tiễn, bắt lấy những sự kiện, không suy luận mò mẫm, dám mạo hiểm xung phong với lòng nhiệt thành và tâm hồn chí công vô tư.
2. Lúc vào việc đã quyết định rồi, là làm ngay. Tháo vác, kiên nhẫn và can đảm, không chiếm việc, tranh công, anh hùng cá nhân chủ nghĩa. Không đòi hỏi, mặc cả, tự coi mình là thứ nhân công trước chủ nhân.
3. Lúc xong việc, phải kiểm điểm lại từng phần vụ:
A. Tự kiểm mình trước để biết cái tốt, xấu, đúng, sai hầu rút kinh nghiệm.
B. Kiểm người để nhận biết những ưu khuyết điểm.
C. Kiểm việc để biết đâu là ưu điểm mà ta phát huy thêm, đâu là nhược điểm, khuyết điểm để khắc phục, bồi đắp. Hầu hoạch định và cải tiến công việc sẽ tới, phải làm thế nào cho có kết quả hơn.
Câu Hỏi 15Khi biểu diễn võ thuật VVĐS phải chuẩn bị tinh thần và cách thể hiện ra sao?
Đáp:Khi biểu diễn võ thuật VVĐS phải chuẩn bị: Về tinh thần, chỉ khi nào có sự cắt cử của môn phái. Khi biểu diễn, trước hết phải nghĩ đến danh dự môn phái, để hết tinh thần vào cuộc biểu diễn, để truyền vào cảm quan khán giả những đòn thế tinh luyện với sự diễn tả tận tình, hăng say nhưng nhu nhã, dữ dội mãnh liệt, mà vẫn uyễn chuyển, nhịp nhàng. Phải giữ được sự huyền nhiệm và biểu dương được những nét độc đáo, đặc sắc về võ thuật và tinh thần võ đạo. Về cách thể hiện, phải trang, tề, đạm, lễ, kỷ.
Trang         – Võ phục trang nhả, gọn gàng.
Đạm         – Sắc diện điềm đạm, vui vẽ.
Tề         – Cử chỉ tề chỉnh, đàng hoàng.
Lễ         – Nói chuyện lễ độ, khiêm nhường.
Kỷ         – Triệt để tuân hành kỷ luật cuộc biểu diễn do người điều khiển đề ra.
Câu Hỏi 16Khi giao tiếp với mọi người VVĐS phải có tác phong nào?
Đáp:Khi giao tiếp với mọi người, Việt Võ Đạo Sinh phải có thái độ, cách đối thoại, cử chỉ xứng đáng với tinh thần Việt Võ Đạo.

A. Về thái độ phải ôn tồn, lễ độ. Nhưng không do dự, sợ thảo luận, ta phải cởi mở nhưng không bạ đâu nói đó, tiết lộ chuyện nội bộ của môn phái cho người ngoài hay. Niềm nở nhưng không nịnh bợ, cầu cạnh, suồng sả. Khiêm nhường nhưng không quì lụy, khúm núm.
B. Về cách đối thoại phải điều hòa được tình cảm của mình, đừng nóng nảy hay thờ ơ. Phải hiểu rõ tâm lý và hoàn cảnh của người nghe chuyện, trình bày câu chuyện rõ ràng, biết cách minh chứng và đối lý để thuyết phục người đối thoại.
C.         Về cử chỉ phải thẳng thắn và chững chạc, biết làm dịu tình hình bằng phong thái uy nghi, hòa dịu, biết ứng biến trước nghịch cảnh bất ngờ.

Câu Hỏi 17Khi tham gia công tác xã hội VVĐS phải có tác phong nào?
Đáp:Việt Võ Đạo Sinh phải có tinh thần vị tha vô điều kiện và tuyệt đối tránh việc kể ơn hay có những thái độ, ngôn ngữ, cử chỉ có thể làm người mang ơn ta, tủi thân hoặc hiểu lầm những việc làm tốt đẹp của ta. Khi tiếp xúc hay giúp đỡ họ, ta phải khéo léo giữ gìn ý tứ hòa nhã và lễ độ. Có thế hoạt động xã hội của ta mới có ý nghĩa và làm sáng danh môn phái.
Câu Hỏi 18Trong những buổi sinh hoạt môn phái VVĐS phải có tác phong nào?
Đáp:Trong những buổi sinh hoạt môn phái, Việt Võ Đạo Sinh phải có tác phong: Thân ái, hồn nhiên, cởi mở và bao dung. Vì buổi sinh hoạt môn phái lá dịp để các võ sinh đồng môn có dịp tìm hiểu lẫn nhau từ tâm sự, hoàn cảnh tới tài năng chí hướng của nhau. Cởi mở vì buổi sinh hoạt nầy có mục đích tạo niềm thông cảm, sự hòa dịu tình cảm của các võ sinh để tình đồng đạo mỗi ngày thêm bền vững. Hồn nhiên vì buổi sinh hoạt nội bộ có tính cách gia đình để mọi người có thể phát huy những cá tính đặc biệt của mình, hồn nhiên nhưng không bừa bải quá trớn. Bao dung vì không khí trong buổi sinh hoạt nội bộ là cơ hội để cho võ sinh có thể tương trợ nhau, thanh toán những hiểu lầm ngộ nhận. Vì vậy khi ta có những kinh nghiệm gì quý báu, ta nên đem ra phổ biến để mọi người lãnh hưởng. Ngược lại khi đồng đạo có gì lầm lỗi, ta tha thứ. Khi đồng đạo thi triển tài năng, ta nên khuyến khích cổ vũ để tăng nhuệ khí của bạn.

 


 

Thi lên Chuẩn Hoàng Đai (Huyền Đai)

 

Ý Nghĩa 10 Điều Tâm Niệm Của Việt Võ Đạo Sinh

 

 

Câu Hỏi 1Ý nghĩa điều tâm niệm thứ nhất của Việt Võ Đạo Sinh (VVĐS) ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ thất nói về hoài bảo và mục đích của VVĐS. Mang hoài bão đạt tới cao độ của nghệ thuật với mục đích phục dân tộc và nhân loại.
Câu Hỏi 2Tại sao không mang hoài bão lớn lao mà nguyện đạt tới tuyệt độ của nghệ thuật?
Đáp:VVĐS không mang hoài bão lớn lao nguyện đạt tới tuyệt độ của nghệ thuật vì nghệ thuật thì không cùng, mà VVĐS chỉ hoài bão những gì hợp tình và hợp lý có thể thực hiện được chứ không cuồng vọng, không tưởng.
Câu Hỏi 3Những người giỏi võ quan niệm về sự học võ ra sao?
Đáp:Những người giỏi võ quan niệm học võ để trau dồi về cả tinh thần thượng võ và ý thức hệ võ đạo. Do đó họ luôn luôn bình tĩnh để giải quyết sự việc, họ không có mặc cảm tự ti là bị người coi thường, họ rất ghét sự gây gổ và có sự chịu đựng hơn người.
Câu Hỏi 4Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 2 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 2 nói về nghĩa vụ của VVĐS đối với Môn Phái và Dân Tộc. Đối với môn phái, VVĐS phải trung kiên phái huy môn phái. Đối với dân tộc, VVĐS phải xây dựng một thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo (VVĐ).
Câu Hỏi 5Quan niệm về Trung Kiên của VVĐS ra sao?
Đáp:Trung kiên là trung kiên phát huy môn phái chứ không phải trung kiên riêng với cá nhân nào. Tuy nhiên, nếu có một cá nhân chấp chưởng công việc phát huy môn phái, thì VVĐS có nghĩa vụ là phải tiếp tay góp sức.
Câu Hỏi 6Muốn phát huy môn phái VVĐS phải làm gì? Có mấy cách phát huy môn phái?
Đáp:Muốn phát huy môn phái, VVĐS phải:
– Dày công khổ luyện để trở thành Huấn Luyện Viên hay Võ Sư để trực tiếp truyền võ thuật và võ đạo cho quần chúng.
– Thực tập tinh thần Việt Võ Đạo trong đời sống. Nghĩa là ở trong gia-đình thì phải cha từ, con hiếu, anh hiền, em thảo, với bạn bè phải giữ tín nghĩa, với hàng xóm phải luôn luôn tìm dịp giao hòa giúp đỡ.
Câu Hỏi 7Tạo sao nghĩa vụ của VVĐS đối dân tộc là “xây dựng thế hệ thanh niên Việt Võ Đạo”?
Đáp:Đối với dân tộc VVĐS phải xây dựng thế hệ thanh niên VVĐ vì thế hệ thanh niên VVĐ bao giờ cũng là bức tường thành kiên cố để bảo vệ đất nước và xây dựng tương lai. Chính tinh thần võ đạo đã khơi mở tấm lòng yêu nước và làm cho dân tộc trường tồn mãi mãi.
Câu Hỏi 8Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 3 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 3 nói về tinh thần đoàn kết trong môn phái. Muốn có tình đoàn kết VVĐS đồng tâm nhất trí đối với người trên phải tôn kính, đối với tình đồng đạo phải thành thật thương mến nhau.
Câu Hỏi 9Tại sao tình đoàn kết lại được đề cập trước nhất trong một đoàn thể?
Đáp:Tình đoàn kết lại được đề cập trước nhất trong một đoàn thể vì nó là một yếu tố quan trọng để quyết định sự hùng mạnh hoặc tan rã của một đoàn thể.
Câu Hỏi 10Muốn phát huy tình đoàn kết trong môn phái VVĐS phải làm gì?
Đáp:Muốn phát huy tình đoàn kết trong môn phái VVĐS phải dẹp bỏ mọi mặc cảm, thành kiến, tiêu trừ mọi tự ái sai lầm, mọi ý nghĩ cá nhân riêng rẽ, không bao giờ có sự thù hận với đồng môn, nếu có những thắc mắc phải giải quyết ngay với ý tưởng xây dựng.
Câu Hỏi 11Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 4 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 4 nói về võ kỷ và danh dự võ sĩ. VVĐS phải tuyệt đối tôn trọng kỷ luật môn phái và luôn luôn nêu cao danh dự võ sĩ.
Câu Hỏi 12Có mấy thứ kỷ luật? Sự khác biệt giữa kỷ luật của Vovinam Việt Võ Đạo (VVN-VVĐ) với kỷ luật của Quân Đội và các Đảng Phái bí mật ra sao?
Đáp:Có 3 loại kỷ luật:

– Kỷ luật tự giác: Tự mình tìm hiểu lấy trong gương người và bắt chước.
– Kỷ luật sắt: Áp dụng trong quân đội, thi hành trước khiếu nại sau.
– Kỷ luật máu: Các đảng phái bí mật thì thanh toán, khi một đảng viên nào vi phạm điều lệ đảng hoặc sai lệch trong việc thi hành công tác.

Kỷ luật của VVN-VVĐ là kỷ luật tự giác, nghĩa là người trên bảo người dưới làm gương thì người dưới phải làm gương tuy nhiên khi đã thấy sự gương mẫu của người trên rồi mà người dưới không tuân theo thì phải bị trừng phạt hoặc đào thải.

Câu Hỏi 13Thế nào là “anh hùng cá nhân”?
Đáp:Anh hùng cá nhân là người có tài nhưng vô kỷ luật, vô trật tự, không bao giờ chịu khép mình trong khuôn khổ, làm việc một cách tùy hứng vì không có chí hướng nhất định.
Câu Hỏi 14Danh dự võ sĩ là gì?
Đáp:Danh dự võ sĩ là danh dự chung của tập thể một thứ bênh người yếu chống kẻ mạnh, một thứ danh dự vượt lên trên khỏi tự ái cá nhân để hòa mình vào võ đạo.
Câu Hỏi 15Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 5 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 5 nói về ý thức dụng võ của VVĐS. VVĐS luôn luôn tôn trọng các võ phái khác, chỉ dụng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.
Câu Hỏi 16Nếu võ phái khác có một phần tử hư hỏng, chúng ta có quan niệm nào khi bắt buộc phải trừng trị?
Đáp:Khi bắt buộc phải trừng trị một phần tử hư hỏng của võ phái khác, VVĐS chỉ coi đó là một việc làm bất đắc dĩ để khuyến thiện một vài cá nhân hư hỏng nhưng không vơ đũa cả nắm và không bao giờ có ý định xúc phạm tới toàn thể võ phái họ.
Câu Hỏi 17Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 6 là gì? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 6 nói về ý hướng học tập và đời sống tinh thần của VVĐS. VVĐS phải chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần và trau dồi đạo hạnh tức phẩm hạnh VVĐ.
Câu Hỏi 18Thế nào là chuyên cần?
Đáp:– Chuyên: Chuyên chú tập trung tâm trí vào một việc, một sự nghiệp.
– Cần: Cần mẫn lo và làm hết sức mình không quản khó nhọc.
– Chuyên cần: Tập trung tâm trí để vào một việc và ráng làm hết sức không nề hà khó nhọc gian khổ.
Câu Hỏi 19Muốn học tập Chuyên Cần, VVĐS phải thực hiện mấy điểm căn bản? Đó là những điểm gì?
Đáp:Muốn chuyên cần học tập, VVĐS phải thực hiện 5 điểm căn bản là:
1) Học cho rộng (võ thuật lẫn võ đạo, lý thuyết lẫn thực hành)
2) Hỏi cho kỹ (chừng nào hiểu thì thôi, tránh tự ái chán nản)
3) Nghĩ cẩn thận (nghiền ngẫm những điều đã học và làm)
4) Luận cho sáng (so sánh, phân tích, tổng hợp, biện luận và phản luận)
5) Làm hết sức (cố gắng thực tập võ thuật, ham hoạt động, nhiệt thành, phấn khởi)
Câu Hỏi 20Rèn luyện tinh thần có mấy đức tính? Hãy kể ra và giải thích đại cương.
Đáp:Muốn rèn luyện tinh thần VVĐS phải rèn luyện 5 đức tính:

1) Sống khỏe: Về cả tinh thần lẫn vật chất.
2) Đức độ: Luôn luôn bao dung, điều hòa, khắc chế mình và tha nhân để cùng tiến bộ.
3) Cương trực: Cương quyết và thẳng thắn.
4) Trần tĩnh: Chìm lắng và bình tĩnh để tránh những trường hợp sôi-nổi, nóng-nảy và vội-vàng.
5) Tháo vát: Lanh lợi, quyền biến để có thể ứng phó được với mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp bất ngờ.

Câu Hỏi 21Đạo hạnh là gì? Tại sao VVĐS phải trau giồi đạo hạnh?
Đáp:Đạo hạnh là 2 tiếng gọi tắt của 5 chữ: Phẩm Hạnh Việt Võ Đạo. VVĐS phải trau giồi đạo hạnh vì đó là phẩm hạnh căn bản đầu mối của mọi đức tính, nó vô cùng quan trọng cho sự rèn luyện tâm thân trong cả đời công cũng như trong đời tư, vừa phù hợp với võ đạo và võ thuật, vừa thích ứng được với mọi hoàn cảnh.
Câu Hỏi 22Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 7 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 7 nói về tâm niệm sống của VVĐS là sống trong sạch, giản dị, trung và cao thượng.
Câu Hỏi 23Quan niệm về đức tính Trong Sạch của VVĐS ra sao? Có hoàn toàn giống với quan niệm của các vị tu sĩ không?
Đáp:Quan niệm của đức tính Sống Trong Sạch của VVĐS là: giữ mình cho trong sạch nhưng không tiêu cực, bưng tai bịt mắt trước mọi tội lỗi của xã hội mà trái lại phải lắng tai, phải nhìn thẳng vào mọi việc, mọi xấu xa của đời sống để tìm hiểu, giải quyết và cải thiện nó. Quan niệm sống trong sạch của VVĐS rất tích cực, ngang nhiên và linh hoạt, hoàn toàn khác với quan niệm sống của các vị tu sĩ là tiêu cực, chìm lắng vào nội tâm (mắt không nhìn những gì ô uế, tai không nghe những lời tà mị, óc không nghĩ những gì vấy đục để ngăn chặn những hành động xấu xa ngay từ gốc rễ).
Câu Hỏi 24Hãy phân tích sự khác biệt giữa đức tính Giản Dị của VVĐS với đức tính Giản Dị của các vị tu sĩ?
Đáp:Sự khác biệt giữa đức tính Giản Dị của VVĐS và các vị tu sĩ:

1) Giản Dị của các tu sĩ: ăn ở trang phục đều nghiêm trang, đơn sơ, đạm bạc mặc dù nhiều khi họ có đủ điều kiện để hưởng những tiện nghi hoa mỹ.
2) Giản Dị của VVĐS: có điều kiện thì hưởng những tiện nghi hoa mỹ, không thì thôi, không hạch sách, đòi hỏi, gây phiền toái, gây khó chịu cho mọi người.

Câu Hỏi 25Quan niệm về Trung Thực của VVĐS ra sao? VVĐS trung thực với ai? Trung thực thế nào? Có thể là không được biết tới sự gian trá và hứng chịu mọi âm mưu, thủ đoạn của người không?
Đáp:VVĐS trung thực với môn phái, với người trên, và với tất cả mọi người. Nhưng trung thực không có nghĩa là không biết tới sự gian trá, nhưng tự thắng mình để không nhiểm tính gian trá, đó mới là phẩm cách của VVĐSĐối với người ngoài, trung thực cũng không có nghĩa là ngây thơ, đần độn, để hứng chịu mọi âm mưu lừa đảo và khuynh đảo. Trong những trường hợp cần thiết, người trung thực phải chứng tỏ cho kẻ gian trá hiểu rằng lối sống và những thủ đoạn gian trá của họ không thể thành công. Đó là đức tính trung thực của VVĐS.
Câu Hỏi 26Thế nào là đức tính cao thượng? Thái độ bất chợt nhường-nhịn, tha thứ cho người trong một lúc có phải là cao thượng không?
Đáp:Cao thượng là công phu hàm dưỡng lâu dài để ứng dụng trong những trường hợp đặc biệt (thí dụ như bị người làm nhục, đến khi có thể trả thù được nhưng không làm, vì người thành thật hối cải). Thái độ bất chợt nhường nhịn, tha thứ chỉ là tính khí bốc đồng nhưng không định hướng chớ không thể nào cao thượng được.
Câu Hỏi 27Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 8 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 8 nói về ý chí của VVĐS là phải rèn luyện cho mình một ý chí đanh thép, phải kiện toàn ý chí đó bằng cách luôn luôn đương đầu với mọi thử thách gian nguy và thắng phục cường quyền bạo lực.
Câu Hỏi 28Cổ nhân thường phân ý chí ra làm mấy loại? Hãy kể ra và giải thích đại cương.
Đáp:Cổ nhân thường phân ý chí ra làm 3 loại với lối diễn tả gợi hình.
1) Ý chí lau sậy : Tức loại ý chí dễ thay đổi, mềm yếu, gió thổi chiều nào ngã theo chiều ấy, không có chủ định.
2) Ý chí gổ mục, củi cùn : Khá hơn lau sậy một chút dầu sao cũng đã từng có công dụng.
3) Ý chí đanh thép : Loại ý chí vững vàng nhất, tượng trưng cho lớp người trượng phu. Anh hùng dù không gặp thời thuận lợi, lâu ngày có thể rỉ sét nhưng cũng không uốn công, bẻ gãy được.
Câu Hỏi 29Muốn kiện toàn một ý chí đanh thép VVĐS phải làm thế nào?
Đáp:Trong thực tế, muốn kiện toàn một ý chí đanh thép VVĐS phải:
1) Thâu lượm, cân nhắc kỹ lưỡng các sự kiện và dữ kiện trước khi quyết định.
2) Phải thực hiện cho kỳ được với tất cả sở năng mau lẹ và kiên quyết khi bắt đầu vào việc.
Câu Hỏi 30Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 9 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 9 nói về nếp suy cảm, nghị lực, và tính thực tế của VVĐS như:
1) Về nếp suy cảm VVĐS phải sáng-suốt nhận định.
2) Về nghị lực phải bền gan tranh đấu.
3) Về thực tế phải tháo vác hành động.
Câu Hỏi 31Tại sao cần sáng-suốt nhận định?
Đáp:VVĐS cần sáng-suốt nhận định là để phân biệt và giải tỏa được mọi khúc mắc để biết rõ bề mặt và bề trái của sự việc ngõ hầu xử sự cho hợp thời đúng lúc tránh những hậu quả tai hại, thêm bạn bớt thù.
Câu Hỏi 32Thế nào là bền gan tranh đấu? Mạnh Tử đã đưa ra mấy trường hợp tranh đấu lớn trong đời sống? Hãy kể ra.
Đáp:Bền gan tranh đấu có một ý lực sung mãn, thất bại không hề nản lòng, sức mạnh không thể khuất phục, giải quyết những khó-khăn bằng cách bền-bỉ, dẻo-dai đương đầu với chúng.
Mạnh Tử đã đưa ra 3 trường hợp tranh đấu lớn trong đời sống là:
1) Uy vũ bất năng khuất.
2) Bần tiện bất năng di.
3) Phú quí bất năng dâm.
Câu Hỏi 33Có mấy loại hành động? Hãy giải thích tổng quát.
Đáp:Có 3 loại hành động:
1) Hành động tếu, phát sinh từ một thái độ lạc quan quá trớn, không bao giờ dốc hết tâm trí và khả năng vào một việc gì, thản nhiên bỏ chạy khi gặp trở ngại.
2) Hành động dựa-dẫm, phát sinh từ một thái độ bi quan quá lố, thụ động, ỷ lại, cầu an, không tin tưởng nơi khả năng của mình.
3) Hành động tháo vát, loại hành động chủ động, thông minh, nhiều sáng kiến, thích ứng một cách hợp tình, đạt lý với mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp. Người có hành động tháo vác luôn luôn yêu người, kết hợp với người nhưng không dựa-dẩm vào người. Là người luôn luôn ứng phó mau lẹ với mọi hoàn cảnh, nghịch cảnh, nhưng không hãnh tiến, kiêu binh, khinh địch.
Câu Hỏi 34Ý nghĩa điều tâm niệm thứ 10 ra sao? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Điều tâm niệm thứ 10 nói về đức sống và tinh thần cầu tiến của VVĐS. Với mình VVĐS phải tự tin, tự thắng. Với người phải khiêm cung, độ lượng và luôn luôn kiểm điểm để tiến bộ.
Câu Hỏi 35Thế nào là tự tin, tự thắng, khiêm cung độ lượng?
Đáp:– Tự tin: Phải tin ở chính mình, tức phải tin những gì tốt đẹp nhất mình có, như ý chí, đạo đức, danh dự, niềm tin, khả năng võ thuật. Tự tin còn có một ý nghĩa nữa, là phát huy phần tốt đẹp trong con người của mình để ngày thêm thăng tiến.
– Tự thắng: Thắng mình, thắng những thói hư tật xấu, những vị kỷ yếu đưối trong con người của mình.
– Khiêm cung: Khiêm nhường, cung kính với người trên hay người trọng tuổi hơn mình.
– Độ lượng: Đức độ, rộng lượng với người dưới hay người nhỏ tuổi hơn mình.
Câu Hỏi 36Chúng ta nhìn lại bước đã qua bằng thái độ nào? Bằng cặp mắt kiêu ngạo, tự đắc, tự mãn hoặc than van, thương tiếc không?
Đáp:Chúng ta nhìn lại bước đã qua bằng một thái độ luôn luôn kiểm điểm. Những ưu điểm và khuyết điểm của chúng ta, rút từ đấy ra những bài học để tiến bộ. Chứ không phải chúng ta nhìn lại những bước đã qua bằng một cặp mắt kiêu ngạo, tự đắc, tự mãn trước những hành động thâu lượm được hoặc than van thương tiếc trước những thất bại đổ vỡ.
Câu Hỏi 37Khi nào những lỗi lầm trong quá khứ có thể tha-thứ được?
Đáp:Những lỗi lầm trong quá khứ có thể tha-thứ được khi hiện tại chúng ta sống trong sạch cao thượng.

 


 

Thi lên Hoàng Đai I Cấp

 

 

Câu Hỏi 1Một trường dạy võ thuật khác với trường dạy võ đạo ra sao?
Đáp:Trường dạy võ thuật là nơi đào luyện các kỹ thuật để ứng chiến với người và vật. Trường dạy võ thuật chỉ chú trọng tới võ thuật mà thôi. Trong khi trường dạy võ đạo là nơi đào luyện con người toàn diện, cả về võ thuật lẫn ý thức xử dụng sức mạnh và tinh thần, ý chí vào các công tác có tính cách nhân bản, hợp với luận lý và lòng người.
Câu Hỏi 2Một Môn Phái võ thuật, muốn đi tới võ đạo cần phải có các điều kiện gì?
Đáp:Một Môn Phái võ thuật, muốn đi tới võ đạo trước hết phải có:
– Một tinh thần dân tộc đầy đủ.
– Một ý thức hệ võ học vững chắc.
– Một phương pháp giảng dạy hữu hiệu.
Câu Hỏi 3Vì đâu ngành võ thuật nước nhà trước đây chỉ mới đi tới võ thuật chớ chưa tới võ đạo?
Đáp:Ý nguyện thành lập một nền võ đạo cho dân tộc đã được ông cha ta ấp ủ từ lâu đời, nhưng vì hoàn cảnh lịch sử và vì nhu cầu chiến tranh để sinh tổn trong một môi trường đầy khổ đau, biến loạn, các ý nguyện trên chưa được hệ thống hóa đầy đủ để đưa Việt Võ Học lên cao thành Võ Đạo. Hôm nay, Môn Phái VOVINAM tiếp truyền tâm nguyện đó, kết các tinh hoa võ học của dân tộc và thái dụng tinh hoa võ phái khác trên thế giới, lồng vào đó một ý thức hệ đặt căn bản trên triết học cổ truyền đông Phương nâng cao Việt Võ Học thành Việt Võ Đạo.
Câu Hỏi 4Thế nào là tính cách tộc truyền và bí truyền của võ học?
Đáp:Tính cách tộc truyền:
– Võ học thuộc giòng hộ nào chỉ truyền dạy cho thanh niên thuộc giòng hộ đó, việc dạy võ thâu hẹp trong phạm vi một gia đình mà thôi.
Tính cách bí truyền:
– Vị Võ Sư khi truyền dạy học trò, bao giờ cũng giữ lại một vài “miếng” độc đáo đề phòng trường hợp học trò phản bội.
– Việc truyền dạy lại có tính cách tình cảm, tùy hứng, rời rạc nhất thời chớ không theo một chương trình và phương pháp. huấn luyện rõ rệt. Các môn võ độc đáo, do đó theo thời gian mà thui chột, thoái hóa đi.
Câu Hỏi 5Vào thời nào, năm nào nền võ đạo của dân tộc gần hình thành qua việc thành lập “Giảng Võ đường”?
Đáp:Năm 1253, đời nhà Trần qua việc thành lập Giảng Võ đường song song với Quốc Học Viện, có quyền hạn và khả năng như một Viện đại Học, nền võ đạo của Việt Nam đã sắp thành hình. Nhưng vì sự phân biệt quá máy móc giữa Văn và Võ nên các nhà võ học thời đó đã không hệ thống hóa được tư tưởng về võ thuật để tạo thành một nền võ đạo.
Câu Hỏi 6Từ VoViNam tới Việt-Võ-Đạo khác với từ Nhu Thuật tới Nhu Đạo ở những điểm nào?
Đáp:Từ VoViNam tới Việt-Võ-Đạo, khác với từ Nhu Thuật tới Nhu Đạo ở 2 điểm:
Nhu Đạo và sinh hoạt võ thuật Nhật Bản đã có một truyền thống sinh hoạt Võ Sĩ Đạo (Bushido) từ hai ngàn năm nay. Trong khi ở Việt Nam mặc dù đã có nhiều triều đại trọng võ và võ học đã có truyền thống lâu đời, nhưng tinh thần chưa được hệ thống hóa và đôi khi đã bị thui chột vì hoàn cảnh lịch sử. Chúng ta phải xây dựng lại từ đầu.
Nhu Đạo chỉ là giai đoạn phát triển hoàn bị của Nhu Thuật, còn Việt Võ Đạo không những chỉ là giai đoạn trưởng thành của Việt Võ Học, mà còn đang phát triển, cố gắng hoàn bị hơn để đắp xây nền Võ Đạo dân tộc, đóng góp vào tòa nhà văn hóa. Nhu Đạo không bao giờ có thêm đòn mới, trong khi Việt Võ Đạo vẫn sinh hóa, phát triển và kiện toàn trong mọi thời gian, không gian.
Câu Hỏi 7Truyền thống võ học của dân tộc Việt Nam được diễn tiến ra sao?
Đáp:Truyền thống võ học Việt Nam là một bài học dài, cần nghiên cứu sâu rộng. Dưới đây, xin được ghi lược lại các nét chính:
Truyền thống võ học gắn liền với nguồn gốc và sự phát triển của dân tộc giữa thiên nhiên và giữa sự cạnh tranh để sinh tồn với các dân tộc khác. Truyền thống này tùy thuộc vào các yếu tố nhân văn, địa lý, tình trạng xã hội, trình độ tiến hóa và nhu cầu chiến đấu…
Câu Hỏi 8Có mấy thời kỳ lập võ? Hãy kể ra và giải thích đại cương?
Đáp:Trong truyền thống Việt Võ Học, căn cứ trên các sự kiện lịch sử, ta thấy có 4 thời kỳ lập võ:
– Chiến đấu với cầm thú bắt đầu từ thời đại Thạch Khí, cuộc sống man dã giữa núi rừng bắt buộc người ta phải chiến đấu với cầm thú, với thiên nhiên để sinh tồn- võ học phát sinh.
– Song đấu: Ýthức dụng võ chống cầm thú được chuyển thành ý thức dụng võ chống người khi xã hội phát triển, quyền Đa bộ lạc, thị tộc bị va chạm. Võ học do nhu cầu tranh thắng của con người với nhau, phát triển thêm một bước dài.
– Hỗn đấu: Từ một người chống một người, các cuộc tranh đấu lần lần chuyển thành nhiều người chống một người, hoặc một người chống nhiều người, hoặc nhiều người chống nhiều người – chiến tranh xảy ra. Võ học tiến triển.
– Võ học thâm nhập vào binh pháp: bắt đầu từ thời nhà Lý, Việt Võ Học qua tài năng của danh tướng Lý Thường Kiệt, được đưa vào binh pháp. Và qua một thời gian dài, được coi như là chất liệu để bảo tồn và phát triển, kiến tạo lịch sử Việt.
Câu Hỏi 9Do đâu người tiền sử đã chế biến ra các loại võ như Hầu Quyền, Hổ Quyền, Mã Quyền, Điểu Quyền, Xà Quyền, Ngưu Quyền?
Đáp:Do cuộc sống giữa núi cao rừng thẳm, do nhu cầu tự tồn, người tiền sừ bắt buộc phải thường xuyên chiến đấu với cầm thú. Họ lần lần biết nghiên cứu, xem xét, rồi học hỏi, tiêm nhiễm thói quen của cầm thú trong việc xử dụng sức mạnh. Các loại quyền lần lần hình thành với đặc tính của loài thú.
Câu Hỏi 10Đặc điểm của các loại quyền: Hầu, Hổ, Mã, Điểu, Ngưu, Xà?
Đáp:– Hầu Quyền: chờn vờn nhảy nhót, nhảy cao, đánh nhanh.
– Mã Quyền: nhảy phóng đánh, đạp, đá hậu.
– Hổ Quyền: chụp, mạnh bạo, xiết, quăng, chém mạnh.
– Điểu Quyền: vượt chụp từ trên xuống bất ngờ, dương đông kích tây.
– Xà Quyền: uốn éo, tránh né nhanh gộn.
– Ngưu Quyền: húc mạnh bạo, thô sơ.
Câu Hỏi 11Do đâu ý thức lập võ chống với cầm thú được chuyển sang ý thức lập võ chống với người?
Đáp:Rồi lần lần các mâu thuẫn trong xã hội con người nảy sinh, các tranh chấp về quyền lợi xuất hiện, ý thức dụng võ chống cầm thú được chuyển thành ý thức lập võ chống người.
Câu Hỏi 12Đến lúc võ thuật thâm nhập vào binh pháp, song đấu còn ảnh hưởng ra sao?
Đáp:Đến lúc võ học thâm nhập vào binh pháp rồi, song đấu vẫn còn là yếu tố then chốt để giải quyết chiến tranh, quân 2 bên dàn ra, hai ông tướng song đấu với nhau, tướng nào thua coi như quân bên đó bại trận, bỏ chạy và bị chém giết… Song đấu cũng trở thành một môn thể thao trong cổ lệ Việt Nam, các cuộc đấu vật cổ truyền từ làng này qua làng nọ còn được truyền tụng trong lịch sử, trong dân gian Việt Nam.
Câu Hỏi 13Do đâu phát sinh ra kỹ thuật hỗn đấu?
Đáp:Do nhu cầu chiến tranh giữa các thị tộc, kỹ thuật hỗn đấu phát sinh, võ học phát triển. Các trận đánh lớn đời Hùng Vương thứ 6 với truyền thuyết Phù đổng Thiên Vương, nỏ thần của Thục Phán trong thành Cổ Loa… đều là các cuộc hỗn đấu và phương pháp hỗn đấu được áp dụng triệt để.
Câu Hỏi 14Thời đại nào đã mở mang cho võ học thâm nhập vào binh pháp? Nhà binh pháp đầu tiên của Việt Nam là ai?
Đáp:Như trên đã nói, thời nhà Lý mở mang cho võ học thâm nhập vào binh pháp. Nhà binh pháp đầu tiên của Việt Nam kể là danh tướng: Lý Thường Kiệt.
Câu Hỏi 15Truyền thống Việt Võ Học ra sao? Có mấy phẩm tính?
Đáp:Truyền thống Việt Võ Học có 3 phẩm tính:
– Hợp với thể tạng người Việt và những điều kiện địa lý.
– Cương nhu phối triển.
– Tổng hợp và hòa dịu các ý thức võ học.
Câu Hỏi 16Tại sao Việt Võ Học lại hợp với thể tạng người Việt và các điều địa lý trên?
Đáp:Việt Võ Học được phát sinh từ môi trường sinh sống của giống dân Việt, và do người Việt chế ra, thích ứng với thể tạng mình là việc đương nhiên.
Câu Hỏi 17Thế nào là cương nhu phối triển? Hãy giải thích đại cương?
Đáp:Cương nhu phối triển: điều hòa phát triển hai mặt cứng-mềm, mạnh yếu, nhu nhã uyển chuyển, thẳng thắn mạnh bạo… tiến thối công thủ tùy theo sức vóc và trình độ của địch thủ.
Câu Hỏi 18Vì đâu Việt Võ Học đã tổng hợp và hòa dịu được mọi ý thức võ học trên thế giới? Và đã tổng hợp, hòa dịu theo chiều hướng?
Đáp:Do vị trí đất nước, nằm trên các trục giao thông quan trọng từ đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam. Giống dân Việt có cơ hội hấp thụ được nhiều tinh lý võ học của các dân tộc khác. Với đầu óc thông minh, sáng tạo và với ý thức dân tộc tự tổn, người Việt đã dần dần tổng hợp, thái dụng các nền võ học, tạo thành một truyền thống võ học, đặc thù, không hỗn thuộc, ngoại lai, và phát triển thành Võ Đạo.
Câu Hỏi 19Hãy giải nghĩa danh từ Võ Thuật và Võ Đạo?
Đáp:– Võ Thuật: là kỹ thuật dùng sức ứng chiến với người và vật.
– Võ Đạo: là đường lối hệ thống tư tưởng, quan niệm về vủ trụ và nhân sinh mà người học võ phải “học” và “hành”.
Câu Hoi 20Võ Thuật mang lại lợi ích gì?
Đáp:Võ Thuật mang lại lợi ích thiết thực:
– Làm cho thân thể cường tráng, tinh thần minh mẫn, tâm hồn cao thượng. Giúp con người thêm khả năng để tự tồn và phát triển đời sống, đóng góp thêm vào việc xây dựng xã hội.
– Ngoài ra, võ học còn là chất liệu để kiến tạo lịch sử, bảo vệ độc lập và xây dựng quốc gia.
Câu Hỏi 21Thời nay Võ Thuật còn hữu dụng không?
Đáp:Ngày nay, dù khoa học có giỏi tiến bộ đến mức nào đi nữa, dù các khí cụ chém giết tối tân ra sao đi nữa, võ học vẫn là cái hữu dụng và cần thiết. Võ Thuật làm con người điềm đạm, bình tĩnh, mạnh khỏe, các yếu tố đó rất quan trọng hơn nữa là đức tự tin. Một võ khí tối tân mà thiếu bàn tay có khả năng thì cũng không đem lại lợi ích. Trong cuộc đời bình thường, các hậu quả do việc rèn luyện võ thuật mang lại cũng rất cần thiết để cho con người thành công.
Câu Hỏi 22Ngày xưa ở Việt Nam và Trung Quốc, võ thuật rất thịnh hành trong những giới nào?
Đáp:Thời xưa ở Việt Nam và Trung Quốc, võ thuật rất thịnh hành trong giới Tu Sĩ, Phật, và Lão Giáo (Thiếu Lâm, Nga Mi, Võ đang). Ngoài ra, còn rất thịnh hành trong quân binh, các vị danh tướng thường là người giỏi võ. Họ cũng là mẫu mực để phát huy tinh thần Khổng Giáo. Nhìn chung, người võ sĩ thời xưa chưa có một ý thức hệ võ đạo độc lập, võ sĩ Việt Nam cũng như Trung Quốc đều luyện võ, và hướng tinh thần vào một trong 3 ý thức hệ lớn của triết học đông phương là Nho, Khổng, và Lão (Tam Giáo.)
Câu Hỏi 23Võ Sĩ Đạo Nhật bắt nguồn từ đâu?
Đáp:Võ Sĩ Đạo Nhật bắt nguổn từ hệ phái Samourai, tức là đoàn quân Ngự Lâm, tuyển chọn toàn trai tráng quí tộc, được huấn luyện võ thuật tới mức tinh vi để tiếp tay vào công cuộc chinh phục các nơi, thống nhất lãnh thổ Nhật cho dòng họ Yorimoto vào khoảng đầu thế kỷ 12.
Câu Hỏi 24Hãy kể những dị điểm, đồng điểm giữa tinh thần Võ Sĩ Đạo Nhật Bản và tinh thần Võ Sĩ Đạo Việt Nam, Trung Quốc?
Đáp:Người Võ Sĩ Đạo Nhật Bản được khai sinh về chế độ phong kiến sống và chết vì Thiên Hoàng, họ có một số đức tính cao quí mà ta cũng thường thấy ở các Võ Sĩ Đạo Việt Nam và Trung Hoa như giàu nghị lực, chuộng tín nghĩa, giữ hiếu trung, xả thân vì đất nước… Bên cạnh các đổng điểm đó, còn có một số dị điểm quan trọng: Võ Sĩ Đạo Nhật là một tập thể của triều đình Nhật, họ triệt để tuân hành các sắc chỉ của Vua Nhật. Trong khi Võ Sĩ Đạo Việt Nam và Trung Hoa thường là các bậc ẩn danh, vẫn hành hiệp, cứu đời giúp đời một cách rời rạc, hoàn toàn với cách cá nhân. Võ Sĩ Đạo Nhật mổ bụng tự sát khi bị nhục, Võ Sĩ Đạo Việt Nam và Trung Hoa trái lại: quí mạng sống, hay ẩn nhẫn kéo lê cuộc sống cho ngày rửa nhục chớ không tự hủy hoại.
Câu Hỏi 25Quan niệm của chúng ta về Võ Sĩ Đạo thời nay ra sao? Về các Tôn Giáo ra sao?
Đáp:Thời nay, xã hội có thay đổi, luật pháp và nền văn minh đã làm con người ràng buộc với nhau một cách chặt chẽ có nguyên tắc.
Việt Võ Đạo Sinh do đó, cũng là người Võ Sĩ Đạo với các đức tính cổ truyền, nhưng đời sống và phương pháp hành Đạo có khác người Võ Sĩ Đạo thời xưa. Võ Sĩ Đạo hôm nay phải là người thực tế, sống sát dân tình, hòa câu cười tiếng khóc với vận mệnh chung của dân tộc, xả thân phụng sự cho đời, cho nhân loại nhưng không mù quáng, không tưởng. Việt Võ Đạo Sinh phải là người có hùng tâm, đại chí, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhìn thẳng vào công việc với đôi mắt sâu rộng, biết nương thời danh để xây dựng sự nghiệp vĩnh cửu, vượt qua mọi ý hướng nhỏ nhen, vị kỷ. Về các Tôn Giáo, Việt Võ Đạo Sinh có một quan niệm rộng rãi, cởi mở. Công nhận sự cần thiết của tôn giáo đối với đời sống con người. Ngoài ra, Việt Võ Đạo Sinh cũng kính trọng, và sẵn sàng tiếp nhận các lời hay ý đẹp, cho tới các tư tưởng thanh cao của bất kỳ một người thường nào, khả dĩ làm phong phú cho đời sống tinh thần người võ sĩ.
Câu Hỏi 26Các giá trị chân thể của tinh thần hay vật chất ở đâu?
Đáp:Các giá trị chân thể của tinh thần hay vật chất nằm trong sự tu dưỡng và rèn luyện Việt Võ Đạo Sinh quan niệm rằng điều cần yếu trước mắt là nhận thức đời sống thực tế chung quanh rồi quy định cho bản thân các phương thức sửa mình và hành động sao cho phù hợp với thiên lý, nhân tình.
Câu Hỏi 27Môn phái Vovinam chúng ta xây dựng mẫu người Võ Sĩ Đạo trên bình diện nào?
Đáp:Do quan niệm trên, Môn Phái Vovinam xây dựng mẫu người Võ Sĩ Đạo với hai phương diện:
– Tinh thần cao cả nhưng thực tế.
– Vật chất sung túc, nhưng không tầm thường, vị kỷ.
Câu Hỏi 28Đối với bản thân, Việt Võ Đạo sinh có mấy phương châm tu luyện? Thế nào là luyện thể, luyện trí, luyện khí?
Đáp:Đối với bản thân, Việt Võ Đạo sinh phải luôn luôn hàm dưỡng công phu tu luyện, để cố gắng bỏ xấu thêm tốt, bỏ dở thêm hay, để con người mình mỗi ngày một thêm kiện toàn, tình tiến.
Có 3 phương châm tu luyện:
– Luyện thể: tức rèn luyện thân thể bằng các phương pháp hô hấp, vận động và trau dồi võ thuật.
– Luyện trí: tức rèn luyện trí tuệ bằng các phương pháp học ở Thầy, ở bạn, ở trường học, ở trường đời. Học ở người giỏi những cái hay, học ở người xấu cái dở (để tránh.)
a.        Tự học: bằng sách vở và hàm thụ hoặc chiêm nghiệm.
b.        Tập quan sát, nhận định: tức xem xét, suy nghĩ, tìm hiểu. Người quan sát, nhận định giỏi là người gây được thói quen xem xét, suy nghĩ, tìm hiểu vừa đúng vừa nhanh, giải quyết công việc và cư xử với đời một cách có hiệu quả.
c.        Hội ý: trao đổi ý kiến với bạn đồng môn, với thân hữu ngõ hầu triệt vấn đề học hỏi.
d.        Hội thảo: là cuộc hội ý mở rộng với số đông người hơn. Trong cuộc hội thảo, lưu ý cách ăn nói, phát biểu. Nghệ thuật nói trước công chúng cũng là một điều cần yếu đối với cán bộ Việt Võ Đạo.
– Luyện khí: tức rèn luyện thân khí để tâm thần luôn luôn thanh thản, sáng suốt khi tìm hiểu và nhận xét sự việc. Để luyện thần khí, ngoài việc tiết chế dục vọng còn đòi hỏi một công phu hàm dưỡng lâu dài:
a.        Tiết chế, kèm giữ cảm xúc, tránh các cảm xúc bất chợt, quá độ.
b.        Gạn lộc tinh thần, loại trừ các tư tưởng văn võ, hỗn tạp để lòng luôn luôn thanh thoát, sáng sủa.Luyện khí là một công trình lâu dài, đòi hỏi ở người luyện một tinh thần tự chủ, tự chế cao độ. Chúng ta là người bình thường như mọi người, không phải là thánh nhân nên không thể tuyệt diệt mọi xúc cảm, mọi dục vọng. Chúng ta chỉ có thể lắng nghe, nhìn lại chính bản thân mình để tu dưỡng, để thêm tốt bớt xấu, ngày tiến bộ dưới sự định hướng, dẫn dắt của Môn Phái và quí vị Võ Sư và Huấn Luyện Viên.
Câu Hỏi 29Tại sao Việt Võ Đạo sinh lại phải đối xử tận tình, tận tâm, tận nghĩa với đời? Thế nào là tận tình, tận tâm, tận nghĩa?
Đáp:Việt Võ Đạo sinh phải đối xử tận tình, tận tâm, tận nghĩa với đời, để cuộc sống của ta và người chung quanh ngày càng có các mối giao hảo tốt đẹp hơn, để ta hiểu ta hơn, ta hiểu người hơn, người hiểu ta hơn, người tin tưởng vào sứ vụ của ta và lý tưởng mà Môn Phái muốn truyền rao vào lòng người.
Có 3 phương châm Tận đối với đời:
– Tận tình: tức đối xử với tha nhân bằng tất cả cảm tình đôn hậu mà mình có, muốn thế, phải yêu đời, yêu người. Áp dụng vào thức tế, phân biệt 4 trường hợp đối đãi:
a. Tận tình với thân hữu.
b. Tận tình với bạn đồng môn.
c. Tận tình với các võ phái bạn.
d. Tận tình với đời.
– Tận Tâm: tận tình bộc lộ ra ngoài, tận tâm lắng động vào trong. Tận tình bộc lộ trong một lúc, một trường hợp, một hoàn cảnh nào đó, trong khi tận tâm tiếp truyền mãi trong phần sâu đậm nhất của tình cảm, âm thầm mà sâu sắc, nhiệt thành mà lắng động. Phương châm tận tâm khi áp dụng vào thực tế, cần có 3 đức tính:
a.        Chí thành: trong cách cư xử, bao giờ cũng lấy lòng thành thật tuyệt đối làm căn bản.
b.        Chí tín: nói là làm, hứa là có trong cư xử không bao giờ làm mất lòng tin của mọi người.
c.        Chí công: trọng công bằng, chính trực, không để tình riêng lẫn vào việc chung.
– Tận nghĩa: đối xử có tiền hậu, có thủy có chung với mọi người. Áp dụng vào thực tế có 2 trường hợp:
a.        Đối với bạn và đời: Việt Võ Đạo sinh khi giao kết, cộng tác với ai, cũng phải lấy sự thận trọng làm đầu. Sau khi làm việc chung, nếu thấy rằng mình đánh giá sai bạn bè, phải thay đổi ý kiến thì nên thay đổi bằng cách im lặng “rút lui” không rầm rĩ phản đối, không hộn trách ai bởi vì tất cả là do lỗi của ta, đánh giá lầm lẫn.
b.        Đối với bạn đồng chí, nhất là đối với Môn Phái: Ta phải lấy lòng thủy chung, tận tụy với môn phái làm đầu. Yêu kính và tuân phục người trên.
Câu Hỏi 30Tại sao Việt Võ Đạo sinh phải thường khiêm, thường liên, thường dung trong việc đối xử với mọi người trong cuộc sống? Thế nào là thường khiêm, thường liên, thường dung?
Đáp:– Thường Khiêm: Khiêm đây là khiêm nhường, Việt Võ Đạo sinh phải luôn luôn khả ái, dịu dàng, nhã nhặn, không tự ái, tự kiêu làm mất tình cảm nơi người.
– Thường Liên: Luôn luôn liên kết, hòa hợp với mọi người, cố gắng xóa bỏ mặc cảm, hận thù, hiềm khích – cụ thể hóa lòng yêu thương, lý tưởng mà môn phái muốn truyền dạy.
– Thường Dung: Lúc nào cũng tiếp nhận, bao bọc, tha thứ cho bạn và cho cả thù nữa. Đặc tính bao dung đặt trên lòng thương yêu, tha thứ mọi người, gạt bỏ các ghen ghét, đố kỵ.
Câu Hỏi 31Muốn tổ chức và kiện toàn đời sống cho xứng đáng với người Việt Võ Sĩ, Việt Võ Đạo sinh phải thực hiện những phương châm nào? Thế nào là lập thân, lập chí, lập nghiệp?
Đáp:Muốn tổ chức và kiện toàn đời sống cho xứng danh người Việt Võ Sĩ, chúng ta phải cố gắng thực hiện 3 phương châm:
– Lập Thân: gây dựng cho mình một chổ đứng trong xã hội. Chổ đứng hay nghề nghiệp phải vững về tinh thần và vững về vật chất.
– Lập Chí:
– Lập Đức: (Coi lại bài giảng của võ sư Chưởng Môn về quan niệm hành xử của người võ sư Việt Võ Đạo.)
Câu Hỏi 32Khi nào chúng ta có được đức tính không kiêu hãnh khi thành công, không nản lòng khi thất bại?
Đáp:Người có một ý thức lập nghiệp rõ ràng là người không kiêu hãnh khi thành công, không chán nản khi thất bại – chúng ta hướng tất cả ý chí, nếp suy cảm và nghị lực, khả năng vào sự nghiệp, vượt qua các cá tính vạn vật tầm thường thì sẽ có được đức tính “thắng không kiêu, bại không nản.”
Câu Hỏi 33Sự nghiệp và danh phận khác nhau thế nào? Nếu được lựa chọn, chúng ta thích có danh phận hay sự nghiệp?
Đáp:Sự nghiệp có tính cách ích lợi chung, danh phận chỉ là cái biểu dương tên tuổi, địa vị mà mình đang có, không nhất thiết là có lợi ích chung hay không. Nếu được lựa chọn, chúng ta lựa chọn sự nghiệp – đặt sự nghiệp trên danh phận.

 


 

Thi lên Hoàng Đai II Cấp

 

PHẦN I – về tình cảm Vovinam – Việt Võ Đạo
Câu Hỏi 1Quan niệm của môn sinh Vovinam – VVĐ về tu thân ra sao?
Đáp:Tu thân là cách mạng tâm thân, phải thường xuyên và liên tục:
1) Hàm dưỡng ý chí.
2) Mở mang kiến thức.
3) Trau dồi đạo hạnh.
4) Rèn luyện tài năng.
Câu Hỏi 2Phải tề gia như thế nào?
Đáp:Tổ chức và đặt đúng mối tương quan đối xử, đãi ngộ, thông tình đạt lý giữa những phần tử trong gia đình với nhau để gia đình được ổn định hầu thời giờ và đầu óc để thực hiện lý tưởng của mình đã vạch ra. Gia đình theo nghĩa hiện đại gồm 3 thế hệ : ông bà, vợ chồng, con cái. Có gia đình cùng sống chung với nhau cả năm đời. Phải tổ chức sắp sao cho những người liên hệ đó đừng làm trở ngại công việc của ta.
Câu Hỏi 3Gia đình là gì? Tình cảm gia đình của môn sinh Vovinam – VVĐ ra sao?
Đáp:Gia là nhà. Đình là sân.
Mới đầu gia đình được hiểu theo nghĩa bất động sản, một đơn vị gia cư gồm có nhà và sân. Sau được hiểu rộng theo nghĩa tinh thần: đơn vị căn bản của tổ chức xã hội, gồm những người cùng huyết thống thuộc một dòng họ (đại gia đình) hoặc gồm hai vợ chồng và con cái (tiểu gia đình). Bởi vậy gia đình là nơi con người sinh trưởng, nơi thắm đượm tình bao dung thương mến, và là nền tảng của xã hội.
Tình cảm gia đình đối với người Đông phương rất hệ trọng, vì truyền thống tổ chức xã hội Việt Nam là gia đình, chớ không phải là cá nhân như xã hội Tây phương. Tình cảm gia đình của môn sinh Vovinam – VVĐ có thể tóm tắc trong bốn điểm thiết yếu:
1) Quan tâm, giúp đỡ, săn sóc toàn thể gia đình.
2) Kính trên.
3) Nhường dưới.
4) Yêu mến người ngang hàng.
Câu Hỏi 4Kính mến người trên có phải chỉ cần lễ độ, vâng lời dạy bảo là phải đạo rồi không?
Đáp:Chưa đủ, còn phải biết cách thỉnh đạt ý kiến của mình lên người trên một cách tế nhị với mục đích sửa đổi những lỗi lầm nếu có, để góp công xây dựng gia đình mỗi ngày một phồn thịnh, hoàn thiện hơn lên trong không khí đầm ấm.
Câu Hỏi 5Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, đã tròn chữ hiếu chưa?
Đáp:Hết lòng phụng dưỡng cha mẹ chỉ là mở đầu đạo hiếu. Muốn tròn đạo hiếu, ngoài sự phụng dưỡng còn phải làm cho cha mẹ vinh hiển về công việc làm của mình (gây sự nghiệp, bảo vệ và phát huy thanh danh gia tộc).
Câu Hỏi 6Phải nhường dưới ra sao? Có phải chỉ cần chiều chuộng, che chở và gánh chịu những lỗi lầm của họ là đủ thuận thảo rồi chăng?
Đáp:Nhường dưới không là chỉ là nhường nhịn người dưới một cách thụ động, mà là nhân nhượng, bao dung người dưới với mục đích giáo dục cảm hóa, khích lệ và hướng dẫn họ mỗi ngày một thêm tốt bỏ xấu, có phẩm cách hơn để sống với một đời sống xứng đáng hơn.
Câu Hỏi 7Môn sinh Vovinam – VVĐ suy nghĩ sao về tình nghĩa sư đệ hôm nay?
Đáp:Nói chung tình nghĩa sư đệ hôm nay đã suy giảm đi rất nhiều, vì:

– Ảnh hưởng của tư tưởng tự do dân chủ tiến bộ.
– Ảnh hưởng của các vấn đề xã hội như chiến tranh, sự tiến bộ của kỷ thuật và khoa học, khiến con người muốn vượt ra ngoài khuôn sáo cũ, coi trọng trí tuệ, nhẹ niềm tin và giá trị tinh thần.
– Hệ thống tổ chức nền giáo dục đã đổi mới, ông thầy ngày nay chỉ là một chuyên viên. Do đó, về đức độ, tuổi tác, kinh nghiệm sống chưa hẳn đã vượt trên người học mình. Một học sinh từ tiểu học lên đến đại học thường qua hàng chục ông thầy. Tình cảm sư đệ làm sao có thể sâu đậm được.

Ngày xưa, một thầy đồ có khi dạy học trò từ lúc còn để chỏm cho đến lúc thành ông Nghè, ông Cống, giáo huấn cả về nếp sống, cách cư xử ở đời.

Câu Hỏi 8Muốn tình sư đệ được thiêng liêng thắm thiết, thầy trò phải đối xử với nhau ra sao?
Đáp:Tình sư đệ ngày nay có nồng độ cao hay thấy tùy tổ chức giáo dục, tùy theo tư cách cá nhân và cách cư xử giữa thầy trò.
– Trước hết, thầy phải xứng đáng là thầy (có tác phong, tư cách, khả năng, có tinh thần phục vụ cao cả).
– Kế đến thầy phải thành thực, tận tâm dạy bảo, thương mến trò, coi trò như gan ruột tay chân.
– Đối lại, trò phải trung thực, tôn kính, biết ơn và làm vinh danh thầy bằng cách thực nghiệm những điều đã thụ huấn.
Câu Hỏi 9Quan niệm về tình bạn của môn sinh Vovinam – VVĐ ra sao? Có mấy loại bạn? Hãy giải thích đại cương.
Đáp:Môn sinh Vovinam – VVĐ quan niệm rằng : làm người ai cũng có bạn, không có không được. Bạn là thứ yếu tối mật thiết và quan trọng nối liền đời sống chúng ta với đời sống xã hội. Làm sao chúng ta có thể sống cô độc được! Chúng ta cần có bạn để làm việc, để chia vui, xẻ buồn. Tuy nhiên, môn sinh Vovinam – VVĐ luôn luôn phải tự cảnh giác để tránh những trường hợp lầm người gây hại lớn cho đời sống công và tư của mình.
Có nhiều loại bạn, đại để như:
– Bạn tâm giao: cùng tâm hồn, cùng khuynh hướng, đồng cam, cộng khổ.
– Bạn đồng chí: cùng chí hướng, cùng tư tưởng đấu tranh, cùng theo một mục đích.
– Bạn đồng đạo: cùng tôn giáo hoặc cùng nếp sống, cùng quan niệm xử
thế, cùng ý thức hệ tinh thần.
– Bạn đồng môn: cùng học một thầy, một mái nhà trường hay cùng một môn phái.
– Bạn đồng nghiệp: cùng làm một nghề như nhau.
– Bạn đồng sự: cùng làm một việc như nhau.
Câu Hỏi 10Tình bạn nào cao quý nhất trong tất cả các bạn?
Đáp:Bạn tâm giao là bạn cao quý nhất trong tất cả các loại bạn. Thông cảm và thấu hiểu toàn diện về nhau, coi bạn là chính mình.
Câu Hỏi 11Muốn có bạn tâm giao, phải cư xử với bạn ra sao?
Đáp:Muốn có bạn tâm giao, ta phải chí tình, thủy chung, đôn hậu, hiểu rõ bạn về cả tài năng, đức độ, tình cảm và chí hướng; từ ưu điểm đến khuyết điểm để khuyến khích, cổ võ bạn trên đường tiến thủ, tiếp tay bạn khi bạn gặp khó khăn, can gián bạn khi sa vào lỗi lầm.
Câu Hỏi 12Hãy kể một vài giai thoại tiêu biểu về tình bạn tâm giao?
Đáp:Ta có thể chọn một vài giai thoại tiêu biểu như:
Tình bạn của Nguyễn Khuyến – Dương Khê
Lưu Bình – Dương Lễ
Quản Trọng – Bảo Thúc Nha
Kiến Thúc – Bá Lý Hề
Nhưng không bao giờ là Bá Nha – Từ Kỳ vì đó là bạn tri âm.
Hoặc như Lưu – Quan – Trương chỉ là những người bạn đồng chí.
Câu Hỏi 13Thế nào là bạn đồng môn, đồng đạo? Phải cư xử với nhau ra sao?
Đáp:Bạn đồng môn là những người cùng theo một môn phái, cùng chung một mái trường, song chưa có sự kết về tâm hồn; bạn đồng đạo thì ngoài yếu tố cùng môn phái, cùng mái trường còn phải chung một quan niệm xử thế, cùng một nếp sống, cùng một tư tưởng, triết thuyết, cùng một ý thức hệ tinh thần.
Bạn đồng đạo vừa có tình anh em ruột thịt, vừa có tình bạn đồng chí. Do đó, phải luôn luôn tôn trọng cá tính của nhau, với thái độ bao dung, nâng đỡ, che chở và khuyến khích lẫn nhau (khi không còn chung chí hướng thì đường ai nấy đi, chớ không chống đối, thanh toán lẫn nhau).
Câu Hỏi 14Khi thấy bạn đồng môn đánh nhau bị thua, ta tới can thiệp mới biết bạn trái, có nên bênh bạn đánh người hoặc để người đánh bạn cho chừa nết xấu đi chăng?
Đáp:Trước hết, phải can hai người, nhã nhặn, chững chạc xin lỗi người dùm bạn; sau đó, giải thích cho bạn thấy lỗi lầm mà sửa đổi. Nếu bạn còn ngoan cố không chịu lỗi, phải trình lên người trên sửa trị. Trường hợp đối phương thấy họ phải và đã thắng thế nên bất chấp lời xin lỗi và can ngăn của mình cứ xông vào đánh tiếp, thì bắt buộc mình phải can thiệp trong tinh thần tự vệ cứu bạn.
Câu Hỏi 15Thế nào là kẻ thù? Trường hợp nào có thể tha thứ kẻ thù?
Đáp:Kẻ thù là người đối nghịch với ta hoặc về tình cảm hay hành động, làm thiệt hại danh dự hay quyền lợi của ta. Tuy nhiên, ta có thể tha thứ cho kẻ thù khi họ đã hối lỗi hoặc thất thế, hoặc có nghĩa khí, đởm lược (có thể đưa ví dụ Hàn Tín luồn khố anh hàng thịt, Ngũ Tử Tư và Thân Bao Tự, Gia Cát Lượng-Lỗ Túc-Chu Du; Dương Hổ (tướng Thục)-Lục Kháng (tướng Ngô) v.v…
Câu Hỏi 16Khi bắt buộc phải đối phó với kẻ thù, ta phải có thái độ và cách đối xử ra sao?
Đáp:Phải biểu lộ tinh thần thượng võ của người môn sinh Vovinam – VVĐ: Hào hiệp, khoan hòa, xét lại cường độ của kẻ thù hận mà trừng trị tượng trưng, rồi tha thứ, hòa giải để cảm hóa họ.
Câu Hỏi 17Động cơ nào thúc đẩy người trong một nước phải thương yêu, bao bọc giúp đỡ lẫn nhau?
Đáp:Đó là tình nghĩa đồng bào, một tình cảm tự nhiên phát sinh từ:
– Ý thức quốc gia dân tộc.
– Ý thức liên đới cộng đồng tinh thần và vật chất.
– Tình yêu quê hương đất nước.
Câu Hỏi 18Tổ quốc là gì? Hai tiếng Tổ quốc đã gợi lên trong lòng ta những gì?
Đáp:Tổ quốc là nước Tổ, bao gồm quốc gia – lịch sử – dân tộc và di sản tinh thần lưu truyền từ thời lập quốc.
Danh từ tổ quốc đã gợi lên trong tâm hồn ta:
– Những tình cảm sâu đậm về nguồn gốc của nòi giống.
– Những hình ảnh thiêng liêng cao quý của tiền nhân trong công cuộc dựng nước và giữ nước.
– Trách nhiệm bảo vệ và làm phong phú di sản tiền nhân.
Câu Hỏi 19Môn sinh Vovinam – VVĐ phải làm gì để nêu cao danh dự tổ quốc?
Đáp:Môn sinh Vovinam – VVĐ phải cố gắng học hỏi để trở thành những công dân ưu tú, tiến bộ, tận tụy làm việc để phục hưng và phát triển xứ sở, bảo vệ hữu hiệu những truyền thống hào hùng, cao đẹp của tiền nhân.
Câu Hỏi 20Câu “Tứ hải giai huynh đệ” gợi cho ta ý niệm gì?
Đáp:Câu “Tứ hải giai huynh đệ” gợi cho ta ý niệm:
– Tình nhân loại : không kỳ thị địa phương, chủng tộc, tôn giáo.
– Tình cảm thâm hậu của vấn đề nhân sinh.
– Đức tính cao đẹp : liên tài, quảng giao, bao dung, độ lượng và hào hiệp.
Câu Hỏi 21Môn sinh Vovinam – VVĐ quan niệm ra sao về tình nhân loại?
Đáp:Môn sinh Vovinam – VVĐ phải quan niệm rằng:
Tình nhân loại là cứu cánh tốt đẹp nhất của con người đối với tha nhân, và luôn luôn coi mọi người đều bình đẳng trong mọi trách nhiệm và quyền lợi. Môn sinh Vovinam – VVĐ yêu nước, giữ độc lập cho quốc gia, nhưng không quá khích, không suy tôn nòi giống mình là thượng đẳng mà coi rẻ, chà đạp nòi giống khác.
Phục vụ dân tộc và đồng bào là thởi điểm của tinh thần phục vụ nhân loại. Chấp nhận mọi quan niệm văn hóa-chính trị-xã hội v.v… giữa các quốc gia, trên căn bản bình đẳng và tương thân tương trợ. Hơn nữa, người môn sinh Vovinam – VVĐ phải đấu tranh cho hòa bình quốc tế, đem lại niềm an vui công chính cho toàn thể nhân loại.

 

PHẦN II – về quan niệm tình yêu và tâm lý nam nữ Vovinam – Việt Võ Đạo
Câu Hỏi 22Quan niệm về tình yêu của môn sinh Vovinam – VVĐ ra sao?
Đáp:Quan niệm về tình yêu của môn sinh Vovinam – VVĐ là quan niệm điều hợp các yếu tố về tình cảm và lý trí để sống theo “Nhiên luật” và nhân luật với sự chừng mực, thanh nhã và thắm thiết.
Câu Hỏi 23Hãy bình giảng về hai quan niệm dước đây:
– Yêu là yêu đủ rồi không suy luận, đắn đo gì nữa.
– Yêu là gắn bó, ràng buộc đời sống của người nam và người nữ vào với nhau, nên phải thận trọng cân nhắc kỹ lưỡng.
Đáp:Quan niệm thứ nhất tuy mang tính chất thuần túy, thơ mộng nhưng nhận chịu ảnh hưởng nhiều ở triết hiện sinh, hiện đang giao động mãnh liệt vào tâm lý lớp thanh niên nam nữ cuồng loạn, không biết tới ngày mai.
Quan niệm thứ hai mang sắc thái cẩn trọng, sáng suốt, nhưng cũng nhận chịu ảnh hưởng nhiều ở các luyến ái quan Nho-Lão-Phận-Thiên Chúa Giáo, có thể trở nên khô khan, mực thước.
Môn sinh Vovinam – VVĐ dung hòa cả hai quan niệm này bằng một quan niệm tình yêu tổng hợp : chấp nhận những phẩm chất đặc biệt của tình yêu thuần túy thơ mộng, nhưng luôn hướng về lương lai với ý hướng xây dựng, cẩn trọng, suy luận (Yếu tố “hợp nhãn” là yếu tố dẫn khởi, Yếu tố kết hợp mới là yếu tố nuôi dưỡng và triển khai tình yêu.)
Câu Hỏi 24Người ta thường phân loại tình yêu ra sao?
Đáp:Người ta thường phân loại tình yêu ra là 3 loại:
– Tình yêu dâng hiến (Amour Oblatif).
– Tình yêu chinh phục (Amour Captif).
– Tình yêu thông cảm (Amour de Communion).
Câu Hỏi 25Thế nào là tình yêu dâng hiến? Tình yêu dâng hiến bị chi phối bởi tình cảm hay lý trí?
Đáp:Tình yêu dâng hiến là loại tình yêu lãng mạn, mù quáng, buông thả, hy sinh tất cả cho người mình yêu, vì coi người mình yêu là thần tượng, không suy nghĩ tới hậu quả, không tìm hiểu người yêu mình có thành thực yêu thương mình không. Tình yêu dâng hiến hoàn toàn bị chi phối bởi tình cảm.
Câu Hỏi 26Thế nào là tình yêu chinh phục? Hãy kể danh tính một vài nhân vật tiêu biểu cho loại tình yêu chinh phục.
Đáp:Tình yêu chinh phục là loại tình yêu sử dụng lý trí gần như tuyệt đối bằng vẻ hào hoa, danh vọng hoặc tiền tài, với mục đích chiếm đoạt đối tượng yêu của mình, hoàn toàn ngược lại với tình yêu dâng hiến. Vài nhân vật tiêu biểu cho loại tình yêu này là: Sở Khanh – Casanova v.v…
Câu Hỏi 27Thế nào là tình yêu thông cảm? Tình yêu thông cảm vị tha hay vị kỷ?
Đáp:Tình yêu thông cảm là tình yêu trầm tĩnh, sáng suốt, có tương quan tình cảm và lý trí thắm thiết giữa người nam và người nữ, để cùng hướng về tương lai, chân thành bồi dưỡng và gầy dựng cho nhau. Tình yêu thông cảm rất cao thượng và bình đẳng giữa người và ta, không vị tha mà cũng không vị kỷ (yêu người và được người yêu lại).
Câu Hỏi 28Muốn xây dựng tình yêu thông cảm phải quan tâm tới những gì?
Đáp:Phải quan tâm tới những điểm:
Thực tế tìm hiểu nhau và giải quyết những khúc mắt về tinh thần và vật chất : có thể tha thứ và dung hợp những tính nết dị biệt của nhau không? Làm thế nào có phương tiện tiến tới hôn nhân? Sau khi đã nên đôi bạn phải làm gì để sống?
Tương kính, tương ái (hình thức thì theo thời biến đổi, nhưng tinh thần thì phải triệt để giữ gìn, trau chuốt, có thế mới không khinh khi nhau và tránh khỏi tan vỡ).- Trình độ văn hóa của đôi bên nam nữ.
– Nếp sống và hoài bão.
– Tuổi tác.
– Sức khỏe.
– Địa vị xã hội của đôi bên (nam nữ) gia đình.
– Tín ngưỡng.
– Lập trường chính trị.
– Dị biệt chủng tộc.
Câu Hỏi 29Tình yêu không muốn đi tới hôn nhân có bền vững không? Hãy giải thích.
Đáp:Không. Vì tình là chặng đường chuyển tiếp để đi tới một mục đích nào đó, chớ không phải tình yêu là mục đích cuối cùng. Cũng ví như đi trên con đường (tình yêu) là để tiến tới một sở cứ nào đó (hôn nhân) nếu không tới sở cứ đã định thì phải rẽ đường khác (tức là tan vỡ). Vậy hôn nhân là một kết hợp hoàn hảo nhất để nuôi dưỡng và triển khai, thăng hoa tình yêu.
Câu Hỏi 30Tự tử vì yêu không toại nguyện, có phải là hành động can trường không?
Đáp:Không. Vì đó chỉ chứng tỏ một trạng thái tâm hồn bệnh hoạn, nhu nhược, thụ động, hèn nhát, không dám đương đầu với nghịch cảnh, tranh đấu với hiện tại để biến đổi nghịch cảnh, hầu đạt ước vọng.
Câu Hỏi 31Hãy giải thích hai trường hợp :
– Yêu nhau (có ăn nằm như vợ chồng) nhưng không muốn tiến tới hôn nhân.
– Hôn nhân nhưng không yêu nhau.
Nếu bắt buộc phải lựa một trong hai, môn sinh Vovinam – VVĐ lựa trường hợp nào? Nêu lý do.
Đáp:Yêu thương nhau ăn nằm với nhau mà không tính tới chuyện hôn nhân chỉ là chuyện cẩu hợp, lừa dối nhau để thoả mãn dục vọng, trốn tránh trách nhiệm, tình yêu đó chắc chắn sẽ tan vỡ, cả hai sẽ khinh lẫn nhau và xã hội sẽ sụp đổ vì đồi phong bại tục.
Ngược lại, hôn nhân mà không yêu nhau thì chỉ làm khổ nhau với những dằn vặt, xung khắc, con cái làm sao yên vui học hành để trở thành những bậc hiền tài cho quốc gia dân tộc?
Tuy nhiên, trong trường hợp bắt buộc, ta nên chọn giải pháp thứ hai vì thực tế đã chứng minh : Ngày xưa, ông bà cha mẹ ta lấy nhau phần đông có bao giờ tiếp xúc với nhau đâu? (Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy). Thế mà gia đình vẫn có hạnh phúc, con cái vẫn nên người, ít có sự lủng củng ly dị nhau. Bây giờ trai gái biết nhau trước rồi mới tiến tới hôn nhân vẫn bỏ nhau rất nhiều.
Câu Hỏi 32Yêu nhau không hiểu tâm lý nhau thì tình yêu đó có thể bền vững và có hạnh phúc không? Hãy kể đại cương về những điểm khác biệt tâm lý giữa người nam và người nữ.
Đáp:Không. Không thể nào có hạnh phúc được. Vì giữa người nam và người nữ có những điểm tâm lý phức tạp, mâu thuẩn; đại cương những điểm đó là:
NamNữ
Lý tríTình cảm
Cương quyếtDo dự
Chiếm đoạtQuên mình
Mạnh dạnMềm mỏng
Tổng quátTiểu tiết
Rộng rãiHẹp hòi
Nhìn xaBiết gần
Câu Hỏi 33Muốn người bạn lòng chiều theo ý ta, ta phải làm sao?
Đáp:Ta phải chiều theo ý họ trước đã, nhưng phải chiều theo hướng hướng dẫn và xây dựng, chớ không thụ động, chiều bất cứ một vật gì dù lầm lẫn, xấu xa.
Câu Hỏi 34Tình yêu đến với người nam ưu tiên từ đâu? Đến với người nữ ưu tiên từ đâu? Muốn tránh sự đổ vỡ và nguy hại cho bản thân cũng như cho người yêu do luật ưu tiên gây ra, người nam và người nữ đối xử với nhau ra sao?
Đáp:Tình yêu đến với người nam ưu tiên từ sắc đẹp và sự hấp dẫn của thể xác (tức là vóc dáng bên ngoài của người nữ, đã làm cho người nam chú ý đến trước nhất, sau đó mới nhận xét đến tính nết, hạnh kiểm, trình độ học vấn, địa vị xã hội v.v…)
Tình yêu đến với người nữ ưu tiên từ danh vọng, địa vị, tình cảm (là từ cử chỉ, lời nói dịu dàng, âu yếm chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt với nàng…)
Muốn tránh sự đỗ vỡ và nguy hiểm cho bản thân, và người yêu do luật ưu tiên gây ra, người nam phải săn sóc đến tình cảm của người bạn lòng tâm sự tay đôi ở nơi vắng vẻ để tránh sự sàm sỗ quá trớn có thể xảy ra làm giảm sự cao đẹp, thanh nhã của tình yêu.
Câu Hỏi 35Khi yêu có phải lúc nào người nam cũng dành trọn vẹn trái tim cho người bạn lòng như người nữ không? Trái tim đó thường được phân chia làm mấy ngăn và chứa đựng những gì?
Đáp:Theo luật phân chia, khi yêu không phải lúc nào người nam cũng dành trọn vẹn trái tim cho người bạn lòng như người nữ. Vì nhu cầu của đời sống chi phối, trái tim của người nam thường được chia làm bốn ngăn: Tình yêu – Công việc – Lý tưởng – Giải trí.
Câu Hỏi 36Thông thường, người nữ thích được người bạn lòng chiều chuộng, tận tụy làm việc để xây dựng tương lai, hay thích được săn sóc bằng những lời tán tụng, bằng cử chỉ vuốt ve âu yếm?
Hãy suy luận những trường hợp nàng phàn nàn; chàng chẳng âu yếm nàng vì chàng không hay tán thưởng nàng, dù chàng vẫn chăm lo cho nàng đủ thứ.
Đáp:Thông thường, người nữ thích được người bạn lòng săn sóc bằng những lời tán tụng, và cử chỉ vuốt ve âu yếm song phải chân thành trong ý hướng xây dựng, chớ không hời hợt bằng ngôn từ tán tụng, vuốt ve suông. Trường hợp trên không ai hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai cả, vì tình yêu cần được thể hiện bằng cả hai phần tình cảm và lý trí, nội dung và hình thức đều quan thiết như nhau. Tình yêu quý trọng ở chân thành song phải được diễn tả bằng ngôn từ và cử chỉ dịu dàng, tế nhị.
Câu Hỏi 37Người nam có thường chú ý đến những chi tiết của sự việc như người nữ không? Họ chú ý tới những gì? Phải xử trí thế nào với người bạn lòng để tránh những hiểu lầm tai hại do luật chi tiết gây ra?
Đáp:Không. Người nam ít quan tâm tới những chi tiết của sự việc mà chỉ chú ý tới đại cuộc với nhận xét tổng quát. Để tránh những hiểu lầm tai hại do luật chi tiết gây ra, người nam phải nhẫn nại nghe những mẩu chuyện lặt vặt, biết lưu ý nhắc nhở những kỷ niệm của người yêu, và người nữ cần phải biết thông cảm tới những dự tính lớn lao, xây dựng đại cuộc của người bạn lòng.
Câu Hỏi 38Trên phương diện xúc cảm, thông thường nhịp độ yêu đương của người nam và người nữ ai bén nhậy hơn? “Tiếng sét ái tình” thường xảy ra nơi người nam hay người nữ? (luật bất đồng cảm).
Hãy suy luận trường hợp : chàng yêu nàng tha thiết, theo đuổi nàng một thời gian, nàng không cự tuyệt nhưng vẫn tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt. Như thế phải chăng nàng đã không để ý tới tình yêu của chàng?
Đáp:Trên phương diện xúc cảm, thông thường nhịp độ yêu đương của người nam bén nhậy hơn của người nữ, tiếng sét ái tình xảy ra nơi người nam … (người nam nhà gia thế, có địa vị, có học thức có thể lấy một người con gái rất nghèo làm vợ, khi hợp nhãn về vóc dáng, hợp ý về tính tình. Nhưng người nữ thì ít khi chịu lấy một người chồng không có tương lai, gia thế, học thức, tiền của kém hơn mặc dầu tướng mạo khôi ngô, tính tình thuần hậu). Trường hợp trên không phải nàng không để ý tới tình cảm của chàng nhưng vì luật bất đồng cảm, cảm xúc của nàng rất chậm, nàng muốn kéo dài sự thử thách để xem chàng có thành thực yêu nàng hay không. Hơn nữa, vốn bản chất e lệ, thụ động, thêm vào những dè dặt từ giáo dục (gia đình, học đường) và kinh nghiệm (từ thân thích, bằng hữu, chuyện láng giềng, xã hội… ) khiến người con gái bề ngoài lạnh nhạt.
Câu Hỏi 39Muốn có hạnh phúc trong tình yêu và bảo vệ tình yêu còn mãi mãi, phải xây dựng tình yêu trên máy nhịp cầu?
Đáp:Phải xây dựng trên ba nhịp cầu:
– Thể xác.
– Trái tim.
– Lý tưởng.Vì nói tới tình yêu là nói tới sự kết hợp thể xác, nhưng sự kết hợp về thể xác chỉ có ý nghĩa và sự rung động tuyệt đối khi hai người nam và nữ cùng cò một lòng yêu thương chân thật đối với nhau (sự hòa hợp của trái tim) và lòng yêu thương chân thật ấy chỉ bền vững khi hai người cùng chung một lý tưởng, tức là cùng một hướng nhìn, cùng một quan niệm sống, cách hành xử ở đời.
Hơn nữa, thể xác có ngày mệt mỏi, không ham thích nữa, nếu không có tình yêu thương chân thật ràng buộc, gắn bó dưới sự chỉ hướng của lý tưởng thì tình yêu sẽ tan vỡ và chia lìa.

 


 

Thi lên Trung Đẳng Đệ III Cấp

 

Phần I – Vũ Trụ Quan, Nhân Sinh Quan Việt Võ Đạo
Câu Hỏi 1Môn phái Vovinam chỉ chú trọng tới mục-đích quảng-bá võ thuật thôi, hay còn chú-trọng tới mục-đích gì khác nữa? Hãy giải-thích.
Đáp:Quảng-bá võ thuật là mục-tiêu đầu tiên của môn-phái Vovinam. Nhưng ngoài mục-tiêu trên, môn-phái Vovinam còn:
1)         Tích cực xây-dựng môn-phái để tiến tới một môn võ đạo dân-tộc, gọi tắc là Việt-Võ-đạo.
2)         Xây-dựng một thế-hệ thanh-niên Việt-Võ-đạo theo đường lối “tâm thân cách mạng” do Võ-Sư Sáng Tổ NGUYỄN LộC đề xướng, để tạo một sinh-khí mới cho dân tộc Việt-Nam theo hai phương-châm: “danh dự và tổ quốc”.
Câu Hỏi 2Tại sao hệ tư-tưởng của môn-phái Vovinam nhận chịu ít nhiều ảnh-hưởng của xã-hội?
Đáp:Hệ tư-tưởng của môn-phái Vovinam nhận chịu ít nhiều ảnh-hưởng của xã-hội, vì môn-phái Vovinam chính là một sản-phẩm của xã-hội, của dân-tộc Việt-Nam qua các giai-đoạn lịch sử của dân-tộc ta.
Câu Hỏi 3Vũ-trụ-quan của người Việt-Võ-Sĩ có mấy định-lý? đó là những định-lý gì?
Đáp:Vũ-trụ-quan của người Việt-Võ-Sĩ có 4 định-lý.
1) Định-lý tam-nguyên.
2) Định-lý tam-đạo.
3) Định-lý thường-dịch.
4) Định-lý miên-sinh.
Câu Hỏi 4Định-lý tam-nguyên là gì? Hãy giải-thích tổng quát.
Đáp:Định-lý tam-nguyên là định-lý công-nhận có 3 nguyên-lý trong sinh-hoạt thiên-nhiên, là:

1) Nguyên-lý tiên-nguyên : Vạn vật đều do nguyên-lý tiên-nguyên tác thành. Nguyên-lý ấy có thể là một chủ tể siêu-hình, có thể là một chủ-tể hữu-hình. Võ phái có võ-tổ, gia-đình có gia-trưởng, sự sống có đấng sáng tạo, cuộc sống có chủ tể: đó là nguyên-lý tiên-nguyên.

2) Nguyên-lý vi-nguyên : Vạn vật đều do nguyên-lý vi-nguyên cấu-thành. Nguyên-tử, tế bào, các đơn-chất hóa học đều là những vi-nguyên. Thừa nhận có một ý-niệm khởi đầu (phải có) qua nguyên-lý tiên-nguyên, ta cũng thừa nhận thêm rằng sau cái bắt đầu ta phải thừa-nhận những cái nhỏ nhất (vi-nguyên) trong cuộc sống.

3) Nguyên-lý quán-nguyên : Vạn vật đều do nguyên-lý quán-nguyên tập hợp thành. Phải có nguyên-lý thứ ba này, những vi-nguyên của cuộc sống mới gắn bó, không rời-rạc.

Ví-dụ: Khi nói tới “Vovinam”, ta có:
– Tiên-nguyên-thể : Việt-Nam.
– Vi-nguyên-thể : Những người trong võ phái.
– Quán-nguyên-thể : Một tổ-chức võ-thuật và võ đạo đã được khai-sinh và hoạt-động trên 30 năm.

Câu Hỏi 5Định-lý tam-đạo là gì? Hãy giải-thích tổng quát.
Đáp:Định-lý tam-đạo là một định-lý thừa-nhận rằng: vũ-trụ, vạn vật đều do 3 thành tố tạo nên là: Âm-Tố, Dương-Tố và Đạo-Thể.
– Âm-Tố : chỉ sự mềm, sự tĩnh, sự tối.
– Dương-Tố : chỉ sự cứng, sự động, sự sáng.
– Đạo-Thể : chỉ sự chế-khắc, điều-hòa, bao-dung.
Câu Hỏi 6Định-lý thường-dịch gì?
Đáp:Định-lý thường-dịch là định-lý thừa nhận rằng: tất mọi sự vật đều biến-đổi luôn luôn, không ngừng.
Câu Hỏi 7Có mấy chiều đi thường-dịch theo thường-lệ? Chiều đi thườg-dịch của Việt-Võ-đạo ra sao?
Đáp:Có 3 chiều đi thường-dịch theo thường lệ:
1) Thường-dịch mỗi lúc một xấu hơn.
2) Thường-dịch mỗi lúc một tốt hơn.
3) Thường-dịch hỗn-tạp: lúc xấu hơn, lúc tốt hơn.Chiều đi thường-dịch của Việt-Võ-đạo là: Vượt lên trên những cái phải quấy, cứng mềm, động tĩnh, sáng tối, thiện-ác, tầm-thường để bao-dung chúng ở địa-hạt tinh thần, điều-hành chúng về phương-diện thực-tế, hóa-giải chúng về phương-diện võ-đạo và võ-thuật.
Câu Hỏi 8Hãy giải-thích và chứng-minh về định-lý miên-sinh.
Đáp:Định-lý miên-sinh là định-lý thừa nhận rằng: tất cả mọi sự vật trên đời đều có sự sống liên-miên bất tận.
Ví dụ: hạt giống gieo xuống đất, sức người vun trồng thành cây. Cây cho qủa. Qủa lại cho hạt giống mà tạo nên giòng miên-sinh bất tận của cây giống.
Câu Hỏi 9Nhân-sinh-quan của người Việt võ-sĩ có mấy nhận-định căn-bản? Đó là những nhận định gì?
Đáp:Có 4 nhận định căn bản: Đó là:
1) Nhận-định về sự sống.
2) Nhận-định về đích sống.
3) Nhận-định về tương-quan giữa cá-nhân với tập-thể.
4) Nhận-định về đạo-sống.
Câu Hỏi 10Nhận định về sự-sống của Việt-Võ-Đạo ra sao?
Đáp:Nhận-định về sự-sống của Việt-Vạ-đạo là: trên thế-gian nầy, không có một sự vật nào có đơn lập tính tuyệt-đối, vì chúng chỉ là những phần-tử trong giồng miên-sinh vô-tận mà thôi.

Về Võ-đạo và Võ-thuật cũng vậy; không có một danh thủ nào trong nghề võ có thể đứng một mình, không có một môn phái nào có thể đứng đơn lập mà phát-triển. Do đó, Việt-Võ-đạo chủ trương dung hợp các võ phái, cũng như các phần tử trong đại khối nhân-loại để cùng thường-dịch, miên-sinh.

Câu Hỏi 11Nhận-định về đích sống ra sao?
Đáp:Nhận định về đích-sống của Việt-Võ-đạo là: chỉ có những con người không có đích-sống, chớ không có đích-sống nào không có sự sống. Vì đích sống, tự nó đã có 1 gía-trị. Chỉ có đích-sống đúng hay sai, cao hay thấp mà thôi.
Câu Hỏi 12Nhận-định về tương-quan giữa cá-nhân với tập-thể ra sao?
Đáp:Nhận định về tương-quan giữa cá-nhân với tập-thể là: giữa cá-nhân với tập-thể đều có tương-quan trách-nhiệm. Tập-thể vun trồng cho tài năng cá-nhân nẩy nở, nhưng cá-nhân phải hòa-đồng vào tập-thể, mới có thể thành-công.
Câu Hỏi 13Đạo sống của Việt-Võ-Đạo có mấy phần vụ? Hãy minh chứng?
Đáp:Đạo sống của Việt-Võ-Đạo có 3 phần vụ: sống, để cho người khác sống, và sống cho người khác.

1) Về phần-vụ “sống”: Phải sống đầy đủ, để trở thành những con người, những con người toàn-diện, những con người sống thực, làm sao cho mỗi ngày có ý-thức hơn và bớt lầm lỗi hơn.
2) Về phần-vụ “để cho người khác sống”: Nguyện-vọng con người, nói chung, thường giống nhau, nên những gì mình không muốn, đừng bắt người khác phải theo. Nếu có thể hãy giúp đỡ người.
3) Về phần-vụ “sống cho người khác”: Hy-sinh một số quyền-lợi và vật-chất bản thân để thực hiện.

Câu Hỏi 14Có thể đạt tới trình-độ võ-đạo mà không phải qua trình-độ võ-thuật được không?
Đáp:Không. Muốn đạt tới trình-độ võ-đạo phải qua trình độ võ-thuật, vì “thuật” là môn học về chuyên-môn, thực-dụng còn “đạo” là môn học tổng-quát về toàn-diện, nên cần phải có một ý-thức hệ, trong đó bao gồm cả chuyên-môn, thực-dụng ở cao cấp.

 

Phần II – Nền võ học Vovinam
Câu Hỏi 15Trước khi sáng tạo Vovinam, Cố Võ Sư Nguyễn Lộc đã nghiên cứu các môn võ nào?
Đáp:Trước khi sáng tạo Vovinam, Cố Võ Sư Nguyễn Lộc đã nghiên cứu các môn võ và vật cổ truyền Việt-Nam cùng hầu hết các môn võ thuật đã có trên thế giới, nhất là võ thuật Trung Hoa.
Câu Hỏi 16Về phương diện nghệ thuật, Vovinam thái dụng mọi tinh hoa võ thuật đã và hiện có trên thế giới. Như vậy, có phải võ Vovinam đã toa rập, mô phỏng theo những môn võ đó không? Hãy giải thích và chứng minh.
Đáp:Không. Thái dụng ở đây có nghĩa là thâu thái những tinh hoa rồi đem biến chế hòa diệu theo một tinh thái riêng, một đường lối riêng trước khi đem áp dụng, cũng y như chúng ta thái dụng tinh hoa của màu xanh và màu đỏ là phải pha trộn hai màu vào với nhau để thành màu tím, chứ không còn là sự giữ nguyên màu xanh, màu đỏ nữa.

Hơn nữa việc thái dụng nầy nhắm vào việc lấy các môn võ trên thế giới làm đối tượng nghiên cứu để tìm cách “hóa giải” hoặc “khắc chế”. Nguyên lý võ học trên thế giới có môn thiên về nhu (dĩ Nhu chế Cương) như Thiếu Lâm Bắc Phái, Jiu Jitsu, Judo, Aikido, hoặc quá thiên về Cương (dĩ Cương thắng Nhu) như Thiếu Lam Nam Phái, Boxe Anglaise, Karatédo, Tae Kwondo chẳng hạn. Vovinam bao trùm, tổng hợp cả hai nguyên lý đó với luật “Cương Nhu Phối Triển”.

Trong Vovinam có đủ mọi đòn thế: đấm, đá, chém, sỉa, quăng quật, vật, khóa, xiết, đánh vào các trọng huyệt, đoạt khí giới với sự biến chế tinh diệu, áp đảo và phản công hữu hiệu, khác hẳn mọi môn võ, do đó, không thể nào là toa-rập, mô phỏng được.

Câu Hỏi 17Nguyên lý nào đã được chọn làm căn bản xây dựng nền võ học Trung Hoa?
Đáp:Nguyên lý “Âm, Dương Tách Biệt” đã được chọn làm căn bản xây dựng nền võ học Trung Hoa. Do đó, có phái chọn Âm (Nhu tính) như Bắc Phái, hoặc theo Dương (Cương tính) như Nam phái Thiếu Lâm.
Câu Hỏi 18Nền võ học Nhật Bản có liên hệ gì tới nền võ học Trung Hoa không?
Đáp:Nhận xét về nguồn gốc, Jiu Jitsu phát sinh từ Nhật Bản, nhưng căn bản “Nhu” lại được biến chế từ môn võ Thiếu Lâm Bắc Phái Trung Hoa.

(Theo truyền thuyết năm 1627, một vị danh y Nhật-Bản tên là Shirobei Akiyama, sau khi đã qua Trung thổ tầm sư học đạo, trở về xứ và tu luyện trong đền Dazaifu. Một hôm, nhân quan sát một trận bão tuyết thấy những cành cây to và cứng bị gẫy đổ dưới sức mạnh của gió và sức mặng của tuyết, trong khi những cây tre và liễu mềm mại chỉ bị gió tuyết làm rủ xuống chớ không gẫy, mà chế biến ra một số thế võ “dĩ Nhu chế Cương”, tức lấy mềm thắng cứng. Cũng năm đó, một nhà sư Trung Hoa là Trần-Nguyên-Tán (Chen Yuan Pin) thuộc Bắc Phái Thiếu Lâm, tỵ nạn chính trị sang Nhật, mới chế biến thêm với võ thuật Thiếu Lâm mà lập thành Jiu Jitsu).

Câu Hỏi 19Căn bản “thuần Nhu” của vị Sáng Tổ Nhu Đạo Jigoro Kano có giá trị như thế nào?
Đáp:Căn bản “thuần Nhu” của Nhu Đạo không đạt đúng mức, vì vẫn có ít nhiều Cương tính, nên chỉ có giá trị tương đối. Hơn nữa, Nhu chỉ có thể “hóa giải” chớ không “khắc chế”, trong Nhu phải có một phần sức mạnh (Cương) hỗ trợ thì mới đạt được thành quả và mới có gía trị cao.
Câu Hỏi 20Nền võ cổ truyền Việt Nam có liên quan gì tới nền võ học Trung Hoa?
Đáp:Nền võ cổ truyền Việt Nam vốn ảnh hưởng các ngành võ từ phía Nam Trung Hoa, nên mang nhiều “Cương thuật tính”. Và, một khi đã lấy Cương làm căn bản thì trong việc luyện võ bao giờ cũng lấy sức mạnh làm đầu, rất chú trọng tới Nội, Ngoại, Thần Công.
Câu Hỏi 21Cương Nhu Phối Triển là gì?
Đáp:Cương: cứng dắn, mạnh bạo, quả quyết.
Nhu : mềm mại, uyển chuyển, tế nhị
Phối : (tức phối hợp) gắn bó, kết hợp, sánh đôi.
Triển : (tức phát triển) nẩy nở, mở mang, lan rộng.Cương Nhu để làm nẩy nở những tinh túy mới, đạt tới mức linh diệu, quyền biến mà vẫn hào hùng, cao cả, rất hiệu lực trong lúc dùng võ và xử thế.
Câu Hỏi 22Phương pháp té (ngã) của Vovinam như thế nào? Nó có khác phương pháp té của Nhu Đạo không? Và té của Vovinam dựa trên căn bản Cương hay Nhu?
Đáp:Phương pháp té của Vovinam được áp dụng theo “phản lực ngang” trong động lực học để làm giảm phản lực của sàn đá dắn. Nghĩa là khi vừa rơi mình xuống sàn xi-măng, hay đá dắn, người võ sinh Vovinam co tròn người lại như con tôm, cằm chạm ngực, gáy cong vút lên khỏi mặt sàn, đồng thời lăn người sang ngang hoặc lăn tròn theo chiều dọc của thân thể mà đứng dậy. Khác hẳn với phương pháp té của Nhu Đạo là khi vừa rơi mình xuống mặt thảm, họ vung hai tay đập mạnh vào thảm với mục đích làm giảm một phần phản lực của mặt thảm. Nhưng nếu té trên sàn đá dắn mà đập tay mạnh như thế sẽ bị đau đớn hoặc thương tích ngay. Và, dầu có đập mạnh hai tay cách nào chăng nữa, thân thể của người đập cũng vẫn còn chịu tới 7, 8 phần 10 phản lực của sàn đá dắn, như thế sẽ không thế nào tránh khỏi nguy hiểm.

Và, té của Vovinam dựa trên nguyên lý “Cương Nhu Phối Triển”, dung hòa hai phản lực Cứng và Mềm để tạo sự thuận hòa, êm dịu.

Câu Hỏi 23Thế nào là “Cương Nhu Phối Triển” trong tinh thần?
Đáp:“Cương Nhu Phối Triển” trong tinh thần là biết hòa hợp giữa Cương và Nhu trong đời sống tinh thần, giữa tư tưởng hùng vĩ với tâm hồn rạt rào tình cảm, giữa ý chí mãnh liệt với đức độ khoan dung, từ ái, giữa nếp sống hào hùng với sự lanh lợi, uyển chuyển, quyền biến; lúc Cương, lúc Nhu, lúc vừa Cương vừa Nhu để hợp với lòng người và lẽ trời, hầu đạt tới thành công trong công cuộc phục vụ quốc gia, nhân loại.
Câu Hỏi 24Căn bản “Cương” có giá trị hay căn bản “Nhu” có giá trị?
Đáp:Cương và Nhu đều có giá trị riêng biệt của nó. Nhưng muốn có kết quả cao độ trong võ thuật và võ đạo thì phải có sự tác hợp giữa Cương và Nhu.
Câu Hỏi 25Nguyên lý “Cương Nhu Phối Triển” của Vovinam có phải là nguyên lý võ học tuyệt đối không?
Đáp:Nguyên lý “Cương Nhu Phối Triển” của Vovinam không thể là một nguyên lý võ học tuyệt đối; nhưng so với các võ học hiện thời, ít ra nó cũng có một giá trị cao nhất.

 


 

Thi lên Chuẩn Hồng Đai

 

PHẦN I – Ý THỨC HỆ VIỆT VÕ ĐẠO
Câu Hỏi 1Tại sao Việt-Võ-Đạo chủ-xướng “Tam nguyên-luận”? Hãy giải thích và chứng minh.
Đáp:Việt-Võ-Đạo chủ-xướng “Tam nguyên-luận” vì 2 lý do:

1) Tam nguyên-luận hợp với truyền-thống tư-tưởng của triết-học Đông-phương hơn cả. Õ Thái-cực đồ của Trung-hoa: Âm, Dương, Đạo. Õ Ấn Độ: Braham: Chủ-tể; Vishnu (Vichnou): Bảo-sinh-thần; Shiva (Civa): Hoại-sinh-thần.

2) Tam-nguyên-luận hòa diệu được các chiều hướng tư-tưởng triết-học, trong lúc nhất-nguyên-luận chỉ biết có một, nhị-nguyên-luận chỉ biết có hai.

a) Nhất-nguyên-luận (monisme): chủ trương bản-thể của vũ-trụ chỉ có 1 nguyên-lý duy nhất, một là duy-tâm, hai là duy-vật.
b) Nhị-nguyên-luận (dualisme): chủ trương bản-thể của vũ-trụ tách rời làm 2: Tâm và vật, chủ-quan và khách-quan, phải và quấy, lành vá dữ, tốt và xấu, tĩnh và động v.v…
c) Tam-nguyên-luận (théorie ternaire): quan-niệm rằng Tâm và vật, phải và quấy, tốt và xấu, động và tĩnh chỉ là 2 trạng thái của sự-vật, để khắc-chế, điều-hòa, bao-dung, còn một thể thứ ba nữa.
Ví-Dụ: Trong gia-đình, đàn-ông và đàn-bà thuộc hai trạng-thái khác nhau, tình vợ chồng là Đạo-thể gắn bó, phối-hợp, điều-hòa, khắc-chế, bao-dung.

Câu Hỏi 2Tại sao định-lý đầu tiên của ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo là định-lý tam nguyên? Hãy giải-thích và dẫn chứng.
Đáp:Sở dĩ ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo đề-cập tới định-lý tam-nguyên đầu tiên, vì vấn đề duy tâm luận hay duy vật luận từ xưa tới nay vẫn là vấn đề quan-trọng hàng đầu của triết-học.

Tuy-nhiên, ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo không nhất thiết chủ-trương duy-tâm hay duy-vật một chiều mà chỉ tổng-hợp những ý-thức hợp lý nhất.

1) Công nhận nguyên-lý tiên-nguyên là công nhận có chủ-tể siêu-hình và hữu-hình trong mọi cuộc sống, dù lớn hay nhỏ.
2) Công nhận nguyên-lý vi-nguyên là công nhận những nguyên-tố nhỏ bé nhất đã tạo ra cuộc sống, như nguyên-tử, tế bào…
3) Công nhận nguyên-lý nguyên-quán là công nhận những hợp chất của sự vật đã tạo ra sự sống, như nước ròng là quán-nguyên thể của công thức H2O.

Câu Hỏi 3Tại sao định-lý đầu tiên của ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo là định-lý tam nguyên? Hãy giải-thích và dẫn-chứng.
Đáp:Không phải thế, nguyên-lý tiên-nguyên công nhận có chủ-tể siêu-hình, nhưng cũng công-nhận có cả chủ-tể hữu-hình. Hơn nữa, nguyên-lý tiên-nguyên nằm trong định-lý tam-nguyên, mà 2 định-lý sau nhắm vào việc giải-thích sự cấu tạo của vạn-vật.

Phái duy-tâm trọng về tinh thần. Phái duy-vật trọng về vật-chất. Sự thật, tinh-thần và vật-chất cùng có giá trị cả, và phải dựa vào nhau để tồn-tại.

Câu Hỏi 4Định-lý tam-nguyên và định-lý tam-đạo có những tương-quan nào? Hãy so sánh, phân tích những đồng-điểm và dị-điểm.
Đáp:Định-lý tam-nguyên và định-lý tam-đạo có những tương-quan mật-thiết bổ-túc cho nhau, vì:

1) Định-lý tam-nguyên giải-thích về nguyên-lý (nguồn gốc) của sự vật, còn định-lý tam đạo giải-thích về sự cấu-tạo.
2) Định-lý tam-nguyên giải-thích về mặt tĩnh (bên ngoài) định-lý tam-đạo giải-thích về mặt động (bên trong).
3) Định-lý tam-nguyên giải-thích về sự-sinh của sự-vật, định-lý tam-đạo giải-thích về sự-thành.

Đồng điểm của 2 định-lý trên, là nguyên-lý tiên-nguyên tương tự như Đạo-thể. Dị điểm là 2 nguyên-lý vi-nguyên và nguyên-quán hoàn toàn khác hẳn 2 tố Âm, Dương.

Câu Hỏi 5Định-lý tam-đạo có thể áp-dụng vào thực-tế, được không? Hãy chứng minh bằng những thí dụ.
Đáp:Định-lý tam-đạo rất thích-hợp với thực-tế, nên lúc nào cũng có thể áp-dụng vào thực-tế. Ví-dụ: một Quốc-gia có 2 mâu thuẫn nội tại, khối thứ ba nhất-định sẽ đóng vai tuồng hóa giải hai khắc chế cả hai. Hai khối trên là Âm-Tố và Dương-Tố. Khối thứ ba lá đạo-thể.

Một ví-dụ khác: Tình gia-đình là đạo-thể, nhưng phần-tử trong gia-đình thuộc 2 tố Âm, Dương. Tình gia-đình càng sâu, những mâu thuẩn nội tại trong gia-đình càng giảm.

Câu Hỏi 6Tương-quan của định-lý thường-dịch và định-lý miên-sinh ra sao? Hãy phân-tích những đồng điễm, dị điễm và điểm liên-quan.
Đáp:Tương-quan của định-lý thường-dịch và định-lý miên-sinh là:

1) Đồng-điểm: cả 2 cùng chú-trọng tới tính “động” của sư-vật.
2) Dị-điểm: định-lý thường-dịch giải-thích về tính “động” nhất thời, định-lý miên-sinh giải-thích về tính “động” vĩnh cửu.
3) Điểm liên-quan: thường-dịch là trạng-thái (bên ngoài), miên-sinh là thực-chất (bên trong). Ví-dụ: Hạt giống gieo xuống đất, nhựa đất, thời tiết, sức người vun trồng thành cây, cây cho quả, quả lại cho hạt giống mà tạo nên giòng miên-sinh. Nhưng từ hạt giống thành cây, từ cây cho quả, từ quả cho hạt giống, đó là sự chuyển-hóa, chuyển hóa không ngừng là thường-dịch.

Câu Hỏi 7Định-lý thường-dịch áp-dụng vào sự nhận-xét những tĩnh vật ra sao? Hãy đơn cử ví dụ và giải-thích.
Đáp:Một trái núi thường được những người bình-thường coi là tĩnh-vật, nhưng nó luôn luôn đổi thay, biến chuyển, nhưng vì đổi thay quá chậm nên mắt người thường không kịp nhận thấy. Ví dụ: nước mưa, cát bụi soi mòn, những cơn gió mang tới những hóa-chất băng hoại, động đất làm chuyển dịch hay mất đi v.v…
Câu Hỏi 8Luật Cương-Nhu Phối-Triển của Vovinam phù-hợp với định-lý nào trong ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo? Hãy dẫn chứng.
Đáp:Luật Cương-Nhu Phối-Triển phù-hợp với tất cả các định-lý trong ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo, nhưng đặc-biệt nhất là phản-ảnh rõ rệt định-lý tam-đạo:
Cương                =        Dương-Tố
Nhu                =        Âm-Tố
(tính)        Phối-Triển        =        Đạo-Thể
Câu Hỏi 9Lối nghiêm lễ Vovinam có phù-hợp với định lý tam-tạo trong ý-thức-hệ Việt-Võ-Đạo và luật Cương-Nhu Phối-Triển trong Việt võ-học không? Hãy dẫn chứng.
Đáp:Rất phù-hợp, vì:

Bàn tay thép        =        cương                 =        Dương-Tố
Trái tim từ ái        =        nhu                 =        Ấm-Tố
Tinh-thần võ đạo        =        tính phối-triển =         Đạo-thể

Câu Hỏi 10Có thể tóm tắt vũ-trụ-quan, nhân-sinh-quan Việt-võ-Đạo trong 1 vài từ ngữ được không? Hãy dẫn chứng.
Đáp:Có thể được:

Về Vũ-Trụ-Quan, đặc-tính của Đạo-thể là DUNG. Tất cả những định-lý tam-nguyên, tam-đạo, thường-dịch, miên-sinh đều có đặc-tính DUNG.
Về Nhân-Sinh-Quan, đặc-tính DUNG được thể-hiện cả trong 4 nhận định về sự sống, đích sống, tương quan giữa cá nhân với tập thể, đạo sống.
Nhưng DUNG không chưa đủ, mà cần phải dịch tức là luôn luôn biến đổi, thích ứng với mọi điều-kiện, mọi trường-hợp.
Tóm lại, có thể tóm tắt vũ-trụ-quan và nhân-sinh-quan Việt-Võ-Đạo trong 2 tiếng DUNG và dịch.

 

PHẦN II – ĐẶC TÍNH VĂN HÓA TRONG VÕ HỌC VIỆT NAM.
Câu Hỏi 11Văn hóa là gì? Có mấy định nghĩa chính?
Đáp:Có 3 định nghĩa chính về văn hóa:

1) Văn hóa là cày ruộng (cultura).
2) Văn hóa là một tổng hợp những trí thức, nhiên hữu, giáo hóa, kiến thức.
3) Văn hóa là một tổng hợp những cơ cấu xã hội, tôn giáo v.v… biểu thị cho một xã hội.

Câu Hỏi 12Văn hóa, theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, được hiểu ra sao?
Đáp:Nếu hiểu theo nghĩa rộng: cày ruộng, bổ củi, lái xe cũng là văn hóa. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ những kiến thức, công trình kiến tạo, mới được coi là văn hóa.
Câu Hỏi 13Võ học theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, được hiểu ra sao?
Đáp:Nếu hiểu theo nghĩa rộng, võ học là một ngành sinh hoạt xã hộI, và sinh hoạt là văn hóa. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, võ học là một ngành học như mọi ngành học khác, tức một tổng hợp những kiến thức và công trình kiến tạo, là văn hóa.
Câu Hỏi 14Muốn khẳng định đặc tính văn hóa trong văn học, chúng ta phải tìm hiểu những vấn đề gì?
Đáp:Chúng ta phải tìm hiểu 3 vấn đề:

1) Vai tuồng học võ trong sinh hoạt văn hóa.
2) Các thời kỳ võ học.
3) Võ học Việt Nam hiện thời.

Câu Hỏi 15Vai tuồng võ học nếu hiểu theo nghĩa “dùng sức mạnh để chế phục” ra sao?
Đáp:Nếu hiểu theo nghĩa “dùng sức mạnh để chế phục” võ-học có 2 đối tượng là thiên-nhiên và con-người, và có 2 loại sức mạnh phải vận dụng là sức mạnh vật-chất và sức mạnh tinh-thần.
Câu Hỏi 16Vai tuồng võ học nếu hiểu theo nghĩa “kỹ thuật dùng sức mạnh để chế phục” ra sao?
Đáp:Nếu hiểu theo nghĩa “kỹ thuật dùng sức mạnh để chế phục” võ học có 3 phần vụ: kỹ thuật dụng võ, quan niệm dụng võ và ý thức dụng võ.
Câu Hỏi 17Võ học Việt Nam có mấy đặc tính tổng quát?
Đáp:Võ học Việt Nam có 3 đặc tính tổng quát:

1) Phản ảnh sinh hoạt thiên-nhiên, như: thế nhảy của nai, thế bay của thủy điểu.
2) Kết tinh thói quen dùng sức mạnh, từ đòn, thế, miếng tổng hợp thành bài, từ dùng đá mài nhọn thành giáo, gươm v.v…
3) Khả năng sáng tạo và phát minh những đòn, thế, miếng mới, lọc từ những môn phái võ du nhập như: Thiếu-Lâm, Võ-Đang, võ Chiêm-Thành, võ Lão-Qua, võ Bồn-Man, võ Chân-Lập (Cambodge), Quyền Anh, Quyền Pháp, Nhu-Thuật, Nhu-Đạo, Karatédo, Teakwondo, Yoga.

Câu Hỏi 18Võ học Việt Nam gồm mấy thời kỳ? Hãy liệt kê.
Đáp:Võ học Việt Nam gồm 3 thời kỳ: thời kỳ sơ-khai, thời kỳ triển-khai và thời kỳ thăng-hóa.
Câu Hỏi 19Võ học Việt Nam trong thời kỳ sơ khai ra sao?
Đáp:Trong thời kỳ sơ khai, võ học Việt Nam có những nét chính như sao:

1) Về thời gian: Đây là thời kỳ võ học dài nhất trong võ học sử, gồm 3888 năm, từ thời kỳ lập quốc nguyên thủy (2879 trước công nguyên) tới hết nhà tiền Lê (1009) .
2) Về đặc tính: Phản ảnh các kinh nghiệm và cảm hứng trong các nhu cầu đấu tranh để sinh tồn, nhất là với thiên-nhiên: gió, bão, sấm, sét, lửa, nước v.v…
3) Ảnh-hưởng tới các bộ môn nghệ thuật:
ĐIÊU KHẮC: Biểu diễn từng thế võ trên các hình người, vật và đồ vật.
VŨ: Xuất quân, khao quân, luyện quân…
NHẠC: Trống trận, các điệu hò: hành quân, thúc quân, sáp chiến.
HỌA: Người và vật dụng, vật luyện võ, diễn võ, dụng võ.
VĂN THƠ: Du-nhập triết-lý Nho, Đạo, Phật vào võ học.

Câu Hỏi 20Võ học Việt Nam trong thời kỳ triển khai ra sao?
Đáp:Trong thời kỳ triển khai, võ-học Việt Nam có những nét chính như sau:
1) Về thời gian: dài 935 năm, từ nhà Lý (1010) đến hết thời Pháp Õ Nhật thuộc (1954) .
2) Về đặc tính: du-nhập, phối-hợp, biến-chế hầu hết các ngành võ học nổi tiếng trên thế giới: Thiếu-Lâm, Võ-Đang, Sơn-Đông, Quyền Anh, Quyền Pháp, Nhu-Thuật, Nhu-Đạo…
3) Về thái dụng: Võ dân tộc được phối hợp, kết tinh với võ du nhập thành Vovinam.
Câu Hỏi 21Võ học Việt Nam trong thời kỳ thăng hóa ra sao?
Đáp:Trong thời kỳ thăng hóa, võ-học Việt Nam có những nét chính:

1) Về thời gian: Từ 1946 tới nay.
2) Về đặc-tính: Phát động được phong trào học Võ-Tự-Vệ (Vovinam nhập môn) trên toàn quốc.
– Hệ thống hóa thành môn phái.
– Hình thành và lập thành Việt-Võ-Đạo.

Câu Hỏi 22Có mấy đặc-tính văn hóa trong võ học Việt Nam hiện nay?
Đáp:Có 2 đặc-tính văn hóa trong văn hóa võ học Việt Nam hiện nay:

1)         Thấm nhuần dân tộc tính.
2)         Tiềm ẩn tổng hợp tính.

Câu Hỏi 23Tại sao võ học Việt Nam thấm nhuần dân tộc tính? Hãy giải thích?
Đáp:Võ học Việt-Nam thấm nhuần dân-tộc-tính vì có tinh thần tự cường và sáng kiến chế biến, nên không bị lệ thuộc hoàn-toàn vào nhiều nguồn võ-học du nhập như những quốc gia không có một nền võ-học riêng trong các bộ môn: đô-vật, kiếm, côn và quyền.
Câu Hỏi 24Tại sao võ học Việt Nam tiềm ẩn tổng-hợp-tính? Hãy giải thích.
Đáp:Võ học Việt Nam tiềm ẩn tổng hợp tính, vì biết thâu thái những tinh hoa du-nhập, nhưng vẫn bảo-vệ và phát-huy được tinh-hoa văn hóa truyền thống:

1) Về võ thuật: Học hỏi chiêm nghiệm, thâu thái tinh hoa võ-học nước ngoài, nhưng lược bỏ, sáng-tạo, chế biến, hóa giải thành những đòn, thế, miếng thích hợp với thể tạng người Việt.
2) Về triết học: Tổng hợp được tinh-hoa Nho, Đạo, Phật thành truyền thống tam giáo Việt Nam.
3) Về y lý: Hòa diệu thuốc Bắc (cơ-thể-học, châm-cứu-học) với thuốc Nam.
4) Về binh pháp: Đưa võ-học vào chiến-tranh, lập ra binh pháp riêng, như binh pháp Lý-Trường-Kiệt, Trần-Hưng-Đạo.